Chương 1: Giới thiệu đê tài • Chương 2: Cơ sờ lý thuyêt, các kêt qua nghiên cứu trước đây và mô hình nghiên cửu • Chương 3: Phương pháp nghiên cứu • Chương 4: Phân tích và kết quâ nghiên cứu • Chương 5: Đê xuất và kết luận 12 CHƯƠNG 2 CO SỞ LÝ THUYẾT, CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN cúu TRƯỚC ĐÂY VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN cúư 2. Trí tuệ nhản tạo là gì? Trí tuệ nhân tạo (AI) là một ngành nghiên cứu mới được phát trién trong lình vực khoa học máy tỉnh. Trí tuệ nhân tạo có thê được hiêu là tông hợp các nghiên cửu vê những hành vi sư dụng trí tuệ (cùa con người, động vật,.) và tìm cách đê máy móc hóa trong dạng các vật thê nhân tạo (Whitby, 2009). Ben cạnh đó, trí tuệ nhân tạo có the được định nghía là một tập hợp các công cụ có nhiệm vụ chung là mô phóng sự sông và đã dược phát triên thành một bộ công cụ phân tích giúp giài quyết các vẩn đề mà trước đây khó hoặc không thê giái quyết (Brent, 2011).
Hệ thống trí tuệ nhân tạo được phát triển trong phần mềm máy tính, phần cứng vật lý hoặc trong các ngừ cành khác đe giải quyết các nhiệm vụ đòi hòi sự nhận thức, khá năng lập kế hoạch, học tập, giao tiêp hoặc hành động giông như con người. Được thiêt kê dựa trên các kiến trúc nhận thức và mạng lưới thân kinh, trí tuệ nhân tạo có thẻ thực hiện các nhiệm vụ dưới những hoàn cành khác nhau mà không cần sự giám sát đáng ke của con người, hoặc chúng có thê học tập từ kinh nghiệm và cài thiện hiệu suất sau khi tiếp xúc với các tập dừ liệu. Theo Caluori (2023), năm tiêu chí đà được đê xuât đê phân biệt AI với máy tính. Tiêu chí thứ nhất: khả năng học tập.
Khả năng học tập như một lieu chí của AI được đặc biệt quan tâm vì ngày nay học máy thường được sử dụng như một từ đồng nghía về AI (Anderson 2017). Tiêu chí thứ hai: khá năng mô phòng hành vi con người -đây là tiêu chí được sử dụng nhiều nhất đôi với các định nghía vê AI, mặc dù sự tương tự được áp dụng ở mức độ khác nhau. Tiêu chí thứ ba: trạng thái “tâm trí" - AI có khà năng hiêu và ghi nhớ cám xúc cũng như nhu cầu cùa các thực thê khác và điều chinh hành vi của chúng dựa trên nhừng điêu này. Tiêu chí thứ tư: mức độ phức tạp cùa vấn đề mà AI có the giái quyết và tiêu chí thứ năm: sự thành công.
“AI đang được xem là một nhân tô động lực nôi bật trong cuộc cách mạng công nghệ lân thứ lư và có thẻ là khới nguồn cho cuộc cách mạng Ihứ tư trong lình vục giáo dục. Nhừng tiết học 13 vê AI cũng đà bắt đâu được đưa vào giáo trình tại các trường học” (Knox, 2020); (Dai, Chai, Lin, 2020). Cụ thê, AI đang dân được truyền bá như mang những giá trị chiến lược quan trọng cho lĩnh vực giáo dục (Seldon, Abidoye, 2018). Loeckx (2016) đã đưa ra nhận định rằng AI là một công cụ hiệu quả khi có thê giâm bớt gánh nặng cua cả học sinh và giáo viên, đông thời mang đến nhừng trái nghiệm học tập cho người học.
Song song với những cải cách giáo dục như quá trình công nghệ hoá các nguôn tài nguyên, trò chơi điện tử ứng hóa hay cá nhân hóa trâi nghiệm học tập, cơ hội cho việc phát triên các phương tiện có sir dụng cua AI trong giáo dục đang rât rộng mờ. Ví dụ như, mô hình tiềm năng liên quan đến các kĩ năng của AI đã được tận dụng đê nâng cao khá năng phán ứng hay thích ứng đế xây dựng môi trường học cá nhân hoá như một sự bù đắp cho tình trạng thiếu hụt trong sổ lượng giáo viên khi sử dụng hệ thống giãng dạy thông minh (ITS) (Boulay, 2016). ITS đáp ứng quá trình cá nhân hoá học tập ờ 4 tiêu chí: kiêm soát kêt quá đầu vào, giao các bài tập thích hợp, cung cấp các đánh giá hiệu quâ và ứng dụng các giao diện trong việc giao tiếp giừa con người và máy tính (Seldon & Abidoye, 2018). Chatbot là gì? Chatbot là hệ thông hộp thoại có thê giúp con người giao tiếp trực tiếp với máy tính bang ngôn ngừ tự nhiên (Jia, 2003).
Chatbot có the bat chước cuộc trỏ chuyện cùa con người và đề xuất nhừng phương thức giái trí cho người dùng. Tuy nhiên, chúng không chi được tạo ra đe thoà mãn duy nhất mục đích này. Chúng đóng vai trò hữu ích trong nhiều lĩnh vực, như lĩnh vực giáo dục, các hoạt động truy xuât thông tin, kinh doanh và thương mại điện tử (Abu, B. Chúng đà xuất hiện với tân suât dày đặc hơn vì những lợi ích mà chúng đem đến cho cà người dùng và người phát triển.
Phần lớn hoạt động cùa Chatbot đều độc lập với nền tâng sử dụng và cỏ thê thỏa mãn ngay nhu câu cua người dùng mà không cân tiên hành quá trình cài đặt. Việc tương tác với Chatbot được tiến hành mà không cần yêu cầu người dùng rời khỏi ứng dụng nhăn tin mà Chatbot đang hoạt động, bao vệ danh tính cùa người dùng trong quá trình sử dụng. Chatbot được tích hợp vào các cuộc trò chuyện nhóm hoặc có thê được chia sé giống như bất kỳ liên hệ nào khác, trong khi nhiều cuộc trò chuyện khác cỏ thế được tiến hành song song (Klopfenstein, Delpriori, Malatini, s, Bogliolo, A, 2017). 14 Theo sơ đồ hoạt động cùa một Chatbot AI cơ bản được vạch ra bởi Fidan vad Gencel (2022), sau khi tiếp nhận thông tin từ người dùng, Chatbot AI sẽ thu thập dừ liệu từ các chủ đề khác nhau.
Neu chù đê đó phù hợp với nội dung tìm kiêm của người dùng, Chatbot AI sè đưa ra câu trà lời và chờ lệnh dừng tìm kiêm. Ngược lại, nếu chú đề không hoặc chưa chac chan liên quan tới yêu câu, Chatbot AI sè đưa ra lời khuyên nghị: “Có phái bạn muôn nhắc tới chủ đê này không?”, từ đó đưa ra câu trả lời phù hợp. Sơ đồ trên được khái quát hoá như trong hình vẽ sau. Hình 1-So’ đồ hoạt động của Chatbot AI surt (Fidan & Gencel, 2022) Theo Zivelonghi, A.
(2024), nhiều tổ chức giáo dục, từ cấp tiểu học và cấp trung học cơ sở, đen các trường đại học và các trung tâm phát triên chuyên nghiệp, nhận được nhiều ích lợi từ việc sử dụng các Chatbot AI như ChatGPT và Google Bard. Khả năng cung câp và trang bị giáo dục cá nhân hoá là một trong nhừng diêm mạnh cua chúng. Cụ thê, sự khởi đâu cùa ChatGPT vào tháng 12 năm 2022 đà khơi gợi làn sóng tranh luận về những tác động cua Chatbot AI trong lĩnh vực giáo dục. Hàng ngàn bài báo trôn các phương tiện truyen thông, các cuộc thao luận trực tuyến và các dien đàn đã cùng trao đôi các vân đê liên quan tới đạo văn, sự trung thực trong học thuật, các trường hợp báo cáo về việc học sinh, sinh viên sử dụng ChatGPT trong các bài kiêm tra (Kirshner 2023; Jane 2023) cũng như sự co gang trong việc phát triên công cụ phát hiện văn bán viết bang AI (Bownman 2023).
15 Các nghiên cứu gân đây đà dự đoán rãng ChatGPT cùng các công cụ Chatbot Al liên quan sè dần tới nhiều sự thay đôi quan trọng trong giáo dục nói chung và trong cách xem xét và đánh giá kêt quâ nói riêng (Zhai, 2022). Bên cạnh đó, các thứ nghiệm ứng dụng ChatGPT đà nhân mạnh nhừng lọi ích mà nó đem lại cho giáo dục, đưa ra nhừng cơ hội và phương pháp học tập mới (Mollicks, 2022; Nikolic, 2023). Mô hình TAM Mô hình châp nhận công nghệ (Technology Acceptance Model) được phát triên bới Đavies (1989) hay còn được biết đến là TAM, phỏng theo lý thuyết về hành động duy lỷ (Ajzen & Fishbein, 1980; Fishbein & Ajzen, 1975) và lý thuyết về hành vi hoạch định (Ajzen, 198 5; Ajzen, 1991). Mô hình châp nhận công nghệ (TAM) có nguôn gôc từ tâm lý học nhận thức, cụ the trong nghiên cứu cùa Fishbein và Ajzcn (1975) về Lý thuyết hành động duy lý (TRA).
TRA được xây dựng đẻ dự đoán sự châp nhận thông tin hoặc lời khuyên nhăm tạo ra sự thay đôi trong hành vi. Năm 1989, Davis và cộng sự (1989) đã xây dựng mô hình lý thuyết dựa trên TRA đê dự đoán xu hướng cua hành vi sử dụng máy tính, được gọi là Mô hình chấp nhận công nghẹ (TAM). Kê lừ khi được giới thiệu trong lĩnh vực Hộ thống Thông tin (IS), TAM đã trờ thành nên tang cho một sô lượng lớn các nghiên cứu (xem King và He 2006; Schepers và Wetzels 2007, và Davis et al. 2007) và các phóng tác (xem Venkatesh và Davis 2000; Venkatesh el al.
2003, và Benbasat và Barki 2007). TAM đưa ra những lý giải cụ thê các yêu tô quyết định đên hành vi của người hoặc tô chức ứng dụng công nghẹ thông tin (Saade, Nebebe & Tan, 2007). Trong TAM, Davis (1989) đề xuất rằng ảnh hường cùa các biến ngoại tác đến ý định được điều chinh bời nhân thức về tính dề sử dụng (Perceived Ease of Use) và nhận thức vê tính hữu ích (Perceived Usefulness). TAM cũng đưa ra những kiên nghị rằng ý định có môi liên quan trực tiêp đên hành vi sử dụng trong thực tế (Davis, Bagozzi & Warshaw, 1989).
Rất nhiêu phát hiện và nghiên cứu ung hộ mô hình TAM nêu trên (Fusilier và Durlabhji, 2005) Theo TAM (Davis, 1986), hành vi sừ dụng công nghệ của người dùng phụ thuộc vào hai yếu tố chính. Yeu tố thứ nhất là về sự hừu ích (Perceived usefulness). Yeu tô thứ hai: tinh dề sứ dụng (Perceived case of use). Theo TAM, khả năng con người có xu hướng sử dụng một công cụ sè cao hơn nêu nó mang lại giá trị cho họ trong công việc, cụ thê là vê mặt dề sử dụng và đáp ứng đúng nhu câu.
16 TAM cũng đưa ra khăng định ràng các yêu tố bên ngoài như lượng kiên thức được thu thập trước đó, sự hồ trợ từ đồng nghiệp, tâm lý cá nhân, kinh nghiệm và đặc điểm của từng cá thê có thê tác động đên hành vi sư dụng công nghệ cùa người dùng. Theo lý thuyêt TAM, việc châp nhận công nghệ là một quá trình ba giai đoạn, trong đó các ycu tổ ben ngoài (các tính năng thiết kế hộ thong) sẽ kích hoạt các phản ứng nhận thức (nhận thức vê tính dề sử dụng và nhận thức vê tính hữu dụng), sau đó, tạo thành một phàn ứng câm xúc (thái độ đôi với việc sử dụng công nghệ / ý định), tác động đến hành vi sử dụng (Davis, 1989; Davis, 1993).