CHƯƠNG 1: LỊCH SỬ TỘC NGƯỜI VÀ MÔI TRƯỜNG CƯ TRÚ 1.1 Lịch sử tộc người 1.1 Nguồn gốc Bru-Vân Kiều là dân tộc cư trú tại trung phần bán đảo Đông Dương gồm Lào, Việt Nam và Thái Lan. Ở Việt Nam, người Bru-Vân Kiều là một trong 3 dân tộc bản 10 địa cư trú ở miền núi Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế. Họ có nguồn gốc từ các nhóm người bản địa sống ở miền núi, có thể bắt đầu định cư từ hàng ngàn năm trước. Họ là một trong những tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Nam Đảo, có quan hệ mất thiết với các dân tộc khác trong khu vực Đông Nam Á.
Xưa kia người Bru-Vân Kiều đã từng sinh tụ ở miền Trung Lào, sau do những biến động lịch sử họ phải di cư đến nơi khác, một bộ phận đi theo hướng phía tây bắc sang Thái Lan, một bộ phận đi về hướng đông tập trung sinh sống tại khu vực tây Quảng Trị, trong các huyện Hướng Hoá, Gio Linh, Cam Lộ và một bộ phận nhỏ ở phía Bắc tỉnh Thừa Thiên. Ở Việt Nam, người Bru-Vân Kiều là một dân tộc thiểu số trong số 54 dân tộc tại Việt Nam. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, người Vân Kiều là một trong số những dân tộc mang họ Hồ nhằm ghi công Chủ tịch Hồ Chí Minh, họ được xem là dân cư có nguồn gốc lâu đời nhất ở vùng Trường Sơn.2 Tộc danh Tộc Bru-Vân Kiều hay còn có tên gọi khác là Bru hay Vân Kiều. Theo như “Danh mục các dân tộc Việt Nam” được Tổng cục Thống kê ban hành ngày 02/03/1979 thì tên gọi “Bru-Vân Kiều” được sử dụng là tên gọi chính thống của tộc người này.
Tên gọi của họ có thể phản ánh vị trí địa lí và điều kiện sinh sống của họ. “Bru” thường chỉ những người sinh sống ở các vùng núi cao hơn, còn “Vân Kiều” để chỉ những người sống gần đồng bằng và các con sông. Ngoài ra, dân tộc Bru-Vân Kiều ở nước ta gồm 5 nhóm địa phương như: Bru, Vân Kiều, Khùa, Trì Trì (hay còn gọi là Tia Ri, Chà Ly, Trùi) và Ma Coong (còn gọi là Măng Coong, Mong Khong, Mường Kong…). Đồng bào Bru-Vân Kiều nói ngôn ngữ Môn-Khmer (ngữ hệ Nam Á), gần giống tiếng nói của người Cơ Tu, Tà Ôi.
Ngôn ngữ của người Bru là tiếng Bru hay còn gọi là Bruu, B’ru, Brou, Baru là một ngôn ngữ thuộc ngữ chi Cơ Tu của ngữ tộc Môn-Khmer. Ở Việt Nam, số người sử dụng tiếng Bru là 74.506 người theo kết quả toàn bộ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam năm 2009 chủ yếu ở các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Đắk Lắk, Thừa Thiên Huế. Ở Lào, số người nói tiếng Bru khoảng 69.000 người (theo số liệu năm 1999), ở phía đông nam, tại các tỉnh Savannakhet, Khammouane, Bolikhamsai. Bên cạnh đó, ở Thái Lan có khoảng 5.000 11 người nói phương ngữ phía đông của tiếng Bru, và khoảng 20.000 người nói phương ngữ phía tây của tiếng Bru (số liệu năm 1983), ở tỉnh Sakon Nakhon và tỉnh Ammat Charoen.
Theo “Về tên gọi các tộc người nói ngôn ngữ Môn-Miên ở miền Tây tỉnh Quảng Bình” của GS.TS Phan Hữu Dật, 1998. In Một số vấn đề về dân tộc học Việt Nam, p. Hà Nội: Nhà xuất bản Đại học Quốc Gia Hà Nội. Các phân nhóm Bru sau đây được tìm thấy ở tỉnh Quảng Bình: Vân Kiều có 5.500 người ở huyện Lệ Thuý và huyện Vĩnh Linh thuộc tỉnh Quảng Trị; Măng Coong có 600 người ở huyện Bố Trạch; Trì có 300 người ở huyện Bố Trạch, Khùa có 1.000 người ở huyện Tuyên Hoá 1.3 Lịch sử tộc người Trên một địa bàn trải rộng từ lưu vực sông Mê Công đến phía đông dãy Trường Sơn, trong lịch sử là nơi cư trú của dân tộc mang tên Bru.
Do những biến động lịch sử kéo dài hàng thế kỷ, một bộ phận người Bru đã di cư đến vùng đất này. Đến Việt Nam, đồng bào dựng làng xung quanh ngọn núi Vân Kiều (Quảng Trị). Tên ngọn núi cũng là tên một tổng của họ, do đó đồng bào được gọi là dân tộc Bru-Vân Kiều. Ngoài di cư sang Việt Nam còn một bộ phận khác của tộc người Bru từ Lào di cư sang Đông Bắc Thái Lan, sinh sống ở các huyện Mường U, Mường Sa Man, … Vùng miền núi các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên vốn trước đây là đất của Nhà nước Lâm Ấp (Chăm), vì vậy, khi đến đây cư trú, đồng bào Bru-Vân Kiều cũng đã gián tiếp tiếp xúc với văn hoá Chăm, trước khi làm quen với văn hoá Việt và Lào.
Điều này được phản ánh trong ngôn ngữ, đặc biệt là những từ ngữ thuộc về cây trồng, mua bán. Một truyền thuyết được truyền lại từ đời này sang đời khác của người Bru- Vân Kiều đó là truyền thuyết “Quả bầu”. Theo như người già Vân Kiều ở bản Lâm Ninh, xã Trường Xuân, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình kể rằng: Ngày xưa, trái đất chỉ là chốn chết chóc hoang sơ, chỉ toàn sỏi đá. Đất chưa có, vạn vật chưa được sinh ra.
Vào một hôm, từ trên trời rơi xuống một khúc gỗ và một con giun khổng lồ. 12 Sau một thời gian, khúc gỗ bị con giun ăn cho tơi mục. Khi đó, đất mới được hình thành nhưng vì con giun ăn không đều nên mặt đất ngày nay mới có nơi nhấp nhô, nơi bằng phẳng, có khe suối, núi đồi. Tiếp đó, trên trời lại rơi một quả bầu, từ trong quả bầu lần lượt bước ra rất nhiều con người, nhỏ to, đen trắng và chia ra đi về mỗi hướng, lập nên nhiều đất nước, nhiều dân tộc khác nhau.
Trong số họ, có một đôi nam nữ kết duyên cùng nhau. Về sau, người đàn ông đi về phía biển cả, người phụ nữ lên núi rừng để sinh cơ lập nghiệp. Những người con của đôi nam nữ này đã sinh thành nên người Vân Kiều. Vì vậy, người Bru-Vân Kiều ngày nay vẫn kể nhau nghe rằng dù là người miền xuôi hay miền ngược, đều sinh thành từ một “quả bầu”, luôn là anh em với nhau.4 Dân số Theo “Tổng điều tra dân số và nhà ở” năm 2019, người Bru-Vân Kiều ở Việt Nam có dân số 94.598 người, cứ trú tại 39 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố.
Dân số nam là 47.301 người và dân số nữ là 47.5 Phân bố dân cư Người Bru-Vân Kiều phân bố tập trung tại các tỉnh: Quảng Trị (69.785 người, chiếm 73,9% tổng số người Bru-Vân Kiều tại Việt Nam), Quảng Bình (18.575 người, chiếm 19,6% tổng số người Bru-Vân Kiều tại Việt Nam), Đắk Lắk (3.563 người), Thừa Thiên Huế (1. Ở huyện Đakrông tỉnh Quảng Trị là nơi đông đảo người Bru-Vân Kiều sinh sống, với nhiều bản làng nằm rải rác trong các khu rừng và vùng núi. Huyện Hướng Hoá tỉnh Quảng Trị, tại đây cộng đồng Bru-Vân Kiều cũng có mặt tại một số xã thuộc huyện này, thường sống trong các thung lũng và gần các con sông. Ở huyện A Lưới thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế, có một số cộng đồng nhỏ của tộc người Bru-Vân Kiều cũng cư trú ở huyện A Lưới.
Ngoài ra, có các nhóm người địa phương như: Người Ma Coong gồm 600 người sinh sống tại xã Thượng Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình trong các bản Noong, bản 61 (Cà Roòng), bản Nịu. Người Khùa gồm có 1000 người sinh sống 13 ở các xã Dân Hoá và Trọng Hoá, huyện Minh Hoá. Họ sống xen kẽ với cộng đồng người Sách-Mày tại đây. Người Trì có khoảng 300 người, địa bàn cư trú ở các bản Cờ Đỏ, Nồng Mới, Troi của xã Thượng Trạch, huyện Bố Trạch.
Môi trường cư trú 1.1 Môi trường cư trú tự nhiên Môi trường tự nhiên nơi đây rất đa dạng, bao gồm các dãy núi, rừng rậm và các dòng sông lớn. Địa hình: Vùng núi cao, có nhiều đồi núi, thung lũng và sông suối chảy quanh co. Địa hình này tạo điều kiện thuận lợi cho việc canh tác nông nghiệp và chăn nuôi. Khí hậu: Với đặc điểm khí hậu nhiệt đới ẩm nên sự thiếu ẩm và thiếu mưa làm cho mùa khô rất khắc nghiệt, mùa mưa chiếm 85-90% lượng nước trong năm, lại thêm sông suối dốc nên trồng trọt gặp nhiều khó khăn.
Nói chung nguồn nước chính phục vụ cho canh tác là nước mưa. Thảm thực vật: Rừng nguyên sinh và rừng thứ sinh phong phú, với nhiều loại cây cối quý hiếm.2 Môi trường cư trú xã hội Người Bru-Vân Kiều sống ở vùng Trường Sơn – Tây Nguyên thuộc miền tây các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Bình. Mỗi làng là một điểm cư trú quần tụ. Một số người Bru-Vân Kiều hiện đang cư trú ở Đắk Lắk do Mỹ-Nguỵ cướng ép di cư vào năm 1972.
Dân tộc Bru-Vân Kiều có một cấu trúc xã hội tương đối giản dị, thường được tổ chức theo hình thức gia đình và dòng tộc. Mối quan hệ cộng đồng rất quan trọng, thể hiện qua sự hỗ trợ lẫn nhau trong các hoạt động sinh hoạt và sản xuất. 14 CHƯƠNG 2: HOẠT ĐỘNG KINH TẾ 2.1 Kinh tế chiếm đoạt Từ bao đời nay, người Bru-Vân Kiều sống chủ yếu bằng canh tác rẫy, trồng lúa. Họ sử dụng nông cụ thô sơ như: rìu, dao quắm, gậy trỉa.
với phương thức sản xuất đơn giản: phát rừng, đốt, rồi chọc lỗ gieo hạt giống, làm cỏ, tuốt lúa bằng tay, hái lượm săn bắn và bắt cá.2 Kinh tế sản xuất 2.1 Nông nghiệp Đồng bào Bru-Vân Kiều từ xa xưa đã lấy canh tác rẫy làm nguồn sống chủ yếu mỗi năm chỉ có một vụ, hiện nay có sản xuất lúa nước song diện tích không đáng kể. Trải qua quá trình sản xuất trên rẫy lâu dài, tộc người Bru-Vân Kiều đã đúc rút được nhiều kinh nghiêm sản xuất từ việc chọn đất, phát, đốt, trỉa, gieo hạt, chăm bón và thu hoạch. Tuy nhiên, so với sự phát triển kĩ thuật canh tác ngày nay thì nơi đây vẫn còn gặp nhiều khó khăn do các nông cụ còn khá lạc hậu. Người Bru-Vân Kiều trong canh tác truyền thống chia rẫy thành 4 loại: Rẫy mới, rẫy đang canh tác, rẫy tái phát và rẫy thường niên.
Như vậy, người Bru-Vân Kiều canh tác rẫy theo hình thức quảng canh. Khi họ khai phá được một mảnh đất rẫy, họ chỉ canh tác trên đó từ 2-3 vụ, sau đó bỏ hoang và khai phá mảnh rẫy khác, cứ như vậy cho đến khi cây cỏ ở rẫy đầu tiên mọc trở lại, với thời gian 6 – 8 năm mới quay lại canh tác tiếp. Ngoài ra, người Bru-Vân Kiều còn có quy định bất hành là không tranh giành đất đai với các tộc khác, mảnh rẫy thuộc họ nào đang được khai phá thì những gia tộc không được đụng đến, mặc dù mảnh rẫy đó đã hoang hoá với thời gian khá lâu.