CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan nghiên cứu Đã có nhiều nghiên cứu trước đây về các nhân tố ảnh hưởng tới khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại, tuy nhiên các bằng chứng thực nghiệm lại không đồng nhất về các nhân tố ảnh hưởng tới khả năng sinh lời, cũng như chiều hướng tác động của các nhân tố này lên khả năng sinh lời của NHTM. Các nghiên cứu ở nước ngoài Ở thế giới, đã có rất nhiều các học giả nghiên cứu về vấn đề khả năng sinh lời trong các NHTM cổ phần thông qua việc áp dụng và phát triển các quan điểm về lý thuyết kinh tế, từ đó chứng minh những khía cạnh cơ bản tác động tới khả năng sinh lời của NHTM. Những nghiên cứu này đã chỉ ra rằng các nhân tố này được phân thành hai loại chính bao gồm các đặc điểm đặc trưng nội tại của ngân hàng và các nhân tố kinh tế vĩ mô tác động.
Có thể kể đến một số nghiên cứu liên quan tới mối liên hệ giữa an toàn vốn ngân hàng với khả năng sinh lời của ngân hàng như nghiên cứu của Pasiouras & Kosmidou (2007) có nên lên mối tương quan dương đối với an toàn vốn ngân hàng và khả năng sinh lời. Nghiên cứu của Athanasoglou và cộng sự (2008) đã xem xét đến các nhân tố bên trong và bên ngoài tác động đến ROA và ROE của các ngân hàng Hy Lạp. Kết quả thu được các biến an toàn vốn, rủi ro tín dụng, quản trị chi phí có ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của các ngân hàng. Đối với các nhân tố bên ngoài, nghiên cứu chỉ ra rằng tác động của lạm phát là cùng chiều trong trường hợp lạm phát là đã được dự báo trước một cách chính xác.
Nghiên cứu của Jafari (2014) chỉ ra được bên cạnh biến an toàn vốn thì biến các biến rủi ro thanh khoản, rủi ro tín dụng, quản trị chi phí cũng có tác động đến ROA của NHTM Syria. 6 Nghiên cứu của Béjaoui và Bouzgarrou (2014) chỉ ra được các nhân tố đặc trưng của ngân hàng gồm an toàn vốn, hiệu quả hoạt động, rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản có tác động đến khả năng sinh lời NHTM Tunisia. Nghiên cứu của Osuagwu (2014) xem xét khả năng sinh lời các NHTM tại quốc gia đang phát triển, cụ thể là Nigeria. Nghiên cứu chứng minh các nhân tố đặc trưng ngân hàng là quan trọng để xác định khả năng sinh lời các ngân hàng, nhân tố ngành ảnh hưởng không đáng kể còn các nhân tố vĩ mô không vượt qua được kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến.
Nghiên cứu của Topak và Talu (2016) cho thấy tác động cùng chiều của các nhân tố an toàn vốn và thu nhập từ lãi, tác động ngược chiều của chi phí hoạt động trên tài sản đến khả năng sinh lời các NHTM Turkey. Các nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam ta, số lượng các bài nghiên cứu về chủ đề trên là không nhiều. Có thể kể đến các nghiên cứu tiêu biểu như nghiên cứu của Trần Việt Dũng (2014) nghiên cứu chung về các nhân tố vĩ mô ảnh hưởng tới khả năng sinh lời chung của toàn ngành ngân hàng. Hay như nghiên cứu của Trần Thị Kim Xuyến (2016) đã đưa ra tổng quát hóa về các nhân tố bên trong cũng như tác động bên ngoài tới khả năng sinh lời của ngân hàng.
Kết quả nghiên cứu cho thấy quy mô ngân hàng, tỷ lệ vốn chủ sở hữu, chi phí hoạt động, lạm phát, tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) có tác động cùng chiều trong khi đó rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tài sản có tác động ngược chiều đến khả năng sinh lời của ngân hàng. Gần đây, nghiên cứu của Lê Đồng Duy Trung trong tạp chí ngân hàng số 12/2020 cho kết quả không hoàn toàn thống nhất với nghiên cứu về NHTM Việt Nam ở trên. Theo nghiên cứu này, tỷ lệ vốn chủ sở hữu tác động dương lên ROA nhưng tác động âm lên ROE trong khi chi phí hoạt động tác động ngược chiều mạnh lên cả ROA và ROE. Việc nghiên cứu về khả năng sinh lời của các NHTM trong nước ta là cần thiết, đặc biệt là trong bối cảnh thị trường kinh tế thay đổi một cách nhanh chóng với các sự kiện quan trọng như chiến tranh thương mại Mỹ-Trung cùng với sự thay đổi trong chính sách tiền tệ của Cục dự trữ liên bang FED đã ảnh hưởng tới hoạt động kinh 7 doanh của các NHTM.
Việc áp dụng các kết quả nghiên cứu của các tác giả nước ngoài vào ngành Ngân hàng nước ta là không phù hợp do có sự khác biệt giữa chính sách điều hành của Ngân hàng Nhà nước, của Chính phủ nước ta và nước ngoài có sự khác biệt. Hơn nữa, các kết quả nghiên cứu trước lại tập trung nhiều vào phân tích toàn bộ hệ thống NHTM, chưa đi vào chi tiết cụ thể từng ngân hàng riêng biệt nên kết quả sẽ có sự khác biệt nhất định tùy từng trường hợp cụ thể. Lý thuyết có tính kế thừa và khoảng trống nghiên cứu Qua phần tổng quan ta thấy, hầu hết các nghiên cứu ở nước ngoài tập trung tìm hiểu về các nước phát triển (ví dụ như nghiên cứu năm 2008 của Athanasoglou và cộng sự (2008) về các ngân hàng Hy Lạp) và trong những năm gần đây đã chuyển sang các nước đang phát triển (ví dụ nghiên cứu năm 2014 của đã xem xét khả năng sinh lời các NHTM tại quốc gia đang phát triển, cụ thể là Nigeria). Đa số các kết quả của các nghiên cứu đều chỉ ra các nhân tố đặc trưng nội tại của ngân hàng là quan trọng để xác định khả năng sinh lời của ngân hàng.
Đó là an toàn vốn, chi phí hoạt động, chi phí dự phòng rủi ro tín dụng, thu nhập từ lãi… Tuy nhiên, kết quả về tác động của các nhân tố bên ngoài như nhân tố vĩ mô và nhân tố ngành đến khả năng sinh lời bị giới hạn, không rõ ràng hay ảnh hưởng yếu. Tác động của các biến bên trong ngân hàng của 2 nghiên cứu gần đây ở Việt Nam cũng cho kết quả không hoàn toàn thống nhất. Nghiên cứu của Trần Thị Kim Xuyến (2016) chỉ ra tỷ lệ vốn chủ sở hữu và chi phí hoạt động tác động cùng chiều đến khả năng sinh lời của các ngân hàng, Trong khi đó, nghiên cứu của Lê Đồng Duy Trung trong tạp chí ngân hàng số 12/2020 cho kết quả tỷ lệ vốn chủ sở hữu tác động dương lên ROA nhưng tác động âm lên ROE trong khi chi phí hoạt động tác động ngược chiều mạnh lên cả ROA và ROE. Bên cạnh đó, cũng chưa có nhiều nghiên cứu trước nghiên cứu về một ngân hàng cụ thể trong hệ thống các NHTM tại Việt Nam.
Chính vì vậy, nghiên cứu này tập trung vào một ngân hàng cụ thể tại Việt Nam– Ngân hàng Thương mại cổ phần Tiên Phong. Việc nghiên cứu cụ thể một ngân hàng trong hệ thống đã giúp cho kết quả nghiên cứu được bám sát với tình hình tài chính của một ngân hàng TMCP hơn. Hơn nữa, luận văn phân tích về khả năng sinh lời của Tiên Phong trong giai đoạn từ năm 2014 tới năm 2020 sẽ có một góc nhìn sát thực nhất tới sự phát triển sau đề án 8 tài cơ cấu năm 2012 của ngân hàng. Đây được xem như là một giai đoạn phát triển thần kỳ từ một ngân hàng nhỏ, mất khả năng thanh khoản vào năm 2012 vươn lên thành một ngân hàng tầm trung với tổng tài sản tới cuối năm 2020 đạt trên 206 nghìn tỷ.
Hai là nghiên cứu đã tính toán được mức độ tác động của các nhân tố phân tích ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Tiên Phong. Khả năng tạo lợi nhuận của Ngân hàng TMCP Tiên Phong được mô tả qua hai chỉ số tài chính là ROA và ROE. Cùng với việc phân tích định lượng thông qua mô hình hồi quy tuyến tính, nghiên cứu đã xác định được mức độ ảnh hưởng của các nhân tố độc lập như tỷ lệ an toàn vốn, chi phí dự phòng rủi ro, chi phí hoạt động, … lên hai chỉ số tài chính nói trên. Ngoài việc đưa ra và phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới khả năng sinh lời của ngân hàng Thương mại cổ phần Tiên Phong cũng đem tới một cái nhìn toàn diện về hiệu quả hoạt động của Ngân hàng, từ đó có những góp ý cho hoạt động của Ngân hàng cũng như các bên ban ngành liên quan giúp gia tăng khả năng hoạt động hiệu quả của hệ thống NHTM Việt Nam nói chung và Tiên Phong nói riêng.
Tổng quan về NHTM và khả năng sinh lời của NHTM 1. Tổng quan về NHTM 1. Khái niệm NHTM Ngân hàng thương mại (NHTM) đã tồn tại và phát triển như một tất yếu cho sự phát triển thần tốc của nền kinh tế các năm gần đây. Không chỉ là trung gian trong thanh toán giữa các giao dịch, NHTM còn đóng vai trò quan trọng trong việc điều phối vốn từ nguồn tiền nhàn rỗi trong hệ thống tài chính như tiền gửi tiết kiệm của nhân dân, của tổ chức tới các nơi trọng điểm cần vốn đầu tư lớn như các dự án bất động sản, các nhà máy sản xuất công nghiệp,.
Trải qua năm tháng, hoạt động của NHTM ngày càng phát triển mạnh mẽ, đáp ứng đầy đủ nhu cầu của khách hàng từ tổ chức tới các cá nhân trong nền kinh tế, qua đó khẳng định tầm ảnh hưởng mạnh mẽ của hệ thống ngân hàng lên sự phát triển của nền kinh tế thế giới cũng như nước nhà. Cho đến thời điểm hiện nay, có rất nhiều các khái niệm về NHTM: 9 Theo Peter S.Rose trong Commercial Bank Management (2004) ngân hàng là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và các dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng chính nhất định so với bất kỳ tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế. Ở Việt Nam, theo Luật các tổ chức tín dụng 2010, Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này. Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: nhận tiền gửi; cấp tín dụng; cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.