CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ QUẤY RỐI TÌNH DỤC TẠI NƠI LÀM VIỆC 1. Khái niệm quấy rối tình dục tại nơi làm việc Quấy rối tình dục được biết đến là một cụm từ ghép xuất hiện khá phổ biến hiện nay khi nói tới những điều tiêu cực trong đời sống và đặc biệt là trong các hoạt động công sở. Đầu tiên, cụm từ “quấy rối” có nghĩa “không để cho yên”3. “Tình dục” là một từ ngữ có nội hàm rộng, vừa phản ánh mối quan hệ giới tính, vừa chứa đựng những yếu tố hữu hình và ẩn giấu của cá nhân.
“Tình dục” trong tiếng Việt được cho là nhu cầu của con người về quan hệ tính giao4. Như vậy, có thể hiểu quấy rối tình dục là một hình thức quấy nhiễu đặc biệt mà hướng về giới tính của người có liên quan. Quấy rối tình dục một chủ thể nào đó làm cho người đó khó chịu, không thoải mái về tâm lý, bị ức chế có thể dẫn đến những vấn đề nghiêm trọng về sức khỏe, công việc. và bất kì cá nhân hay thuộc giới tính nào cũng có thể là mục tiêu của quấy rối tình dục rõ hơn thì quấy rối tình dục có thể liên quan đến quấy rối một người cùng giới tính với kẻ quấy rối, bất kể xu hướng tình dục hoặc bản dạng giới tính của một người.
“Quấy rối tình dục” trong tiếng Việt khá giống với những khái niệm trong bản dịch từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt trong “quấy nhiễu tình dục”, “sách nhiễu tình dục”. nhưng nhìn chung về bản chất thì các tên gọi trên đều mang một ý nghĩa giống như nhau. Ở khía cạnh pháp lý, phải đến những năm của thập niên 80 – 90, thế kỷ 20 thì khái niệm về “quấy rối tình dục” mới xuất hiện, mặc dù trong các văn bản pháp lý vẫn còn chưa nhận dạng được những hành vi đó. Ngoài ra, cũng chưa có điều khoản nào quy định về chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc.
Năm 1979, Công ước CEDAW của Liên Hợp Quốc về xóa bỏ tất cả các hình thức chống phân biệt đối xử với phụ nữ ra đời nhưng cũng chưa có điều khoản nào nêu rõ cấm quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Đến năm 1992, trong Khuyến nghị chung số 19 của Ủy ban về xóa bỏ các hình thức phân biệt đối xử chống phụ nữ của Liên Hợp Quốc đưa ra khái niệm: “Quấy rối tình dục bao gồm hành vi tình dục không được mong muốn như đụng chạm và tán tỉnh về thể xác, những bình luận mang sắc màu gợi dục, đưa cho xem sách báo khiêu dâm 3 Hoàng Phê và các tác giả khác (2003), Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng- Trung tâm Từ điển học, tr. 4 Hoàng Phê và các tác giả khác (2003), Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng- Trung tâm Từ điển học, tr. 8 và bày tỏ đòi hỏi tình dục, dù bằng lời nói hay hành động.
Hành vi như vậy có thể là hành vi làm nhục và có thể tạo thành một vấn đề về an toàn và sức khỏe, hành vi này là phân biệt đối xử khi một phụ nữ có những lý do hợp lý để tin tưởng rằng sự phản đối của người phụ nữ đó sẽ gây bất lợi cho mình liên quan tới việc của mình, bao gồm cả tuyển dụng và thăng tiến hoặc khi hành vi này tạo ra một môi trường làm việc thù địch”. Khái niệm này làm nổi bật được một nội hàm của quấy rối tình dục là hành vi tình dục của một người mà không được đối phương đồng ý, mặc dù chưa nói rõ thế nào là hành vi tình dục và mặc dù đã cố gắng nêu nhiều biểu hiện của quấy rối tình dục nhưng khó có thể liệt kê hết các biểu hiện. Tuy nhiên, khuyến nghị cũng nêu rõ “Bạo lực trên cơ sở giới là một hình thức của phân biệt đối xử cản trở nghiêm trọng khả năng của phụ nữ được hưởng các quyền và sự tự do trên cơ sở bình đẳng với nam giới”. Khuyến nghị còn lưu ý rằng bình đẳng trong việc làm có thể bị hủy hoại nghiêm trọng khi phụ nữ là đối tượng của bạo lực trên cơ sở giới hoặc bị quấy rối tình dục tại nơi làm việc.
Bên cạnh đó, các bên của Công ước phải thực hiện các biện pháp pháp lý hoặc biện pháp khác cần thiết để bảo vệ phụ nữ một cách hiệu quả chống bạo lực trên cơ sở giới, bao gồm tấn công và quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Vào năm 1989 thì cụm từ “Quấy rối tình dục tại nơi làm việc” cũng đã được nhắc đến tại Công ước số 169 của Tổ chức lao động quốc tế ILO đối với những người bộ tộc bản địa. Công ước này ghi nhận quấy rối tình dục như là một hình thức phân biệt đối xử, khuyến nghị các Chính phủ nên thực hiện đến mức có thể để ngăn ngừa bất kỳ sự phân biệt đối xử nào giữa những người lao động thuộc những nhóm người mà Công ước này áp dụng và những người lao động khác, bao gồm thực hiện những biện pháp để bảo đảm rằng họ được bảo vệ khỏi quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Đến năm 1996, Ủy ban chuyên gia của ILO (CEACR) thực hiện Điều tra đặc biệt về Công ước về không phân biệt đối xử trong nghề nghiệp và việc làm (Công ước 111) và Điều tra chung về bình đẳng trong việc làm và nghề nghiệp (1988) nhận định: “Quấy rối tình dục được xác định là một hình thức của phân biệt đối xử dựa trên giới tính; và quấy rối tình dục phá hoại sự bình đẳng tại nơi làm việc bằng cách gây ra vấn đề về đạo đức của cá nhân, phúc lợi của người lao động quấy rối tình dục gây thiệt hại cho doanh nghiệp bằng cách làm suy yếu những nền tảng theo đó các mối quan hệ làm việc được xây dựng và làm giảm suất năng suất”.
Ủy ban cũng cho rằng, để xác định hành 9 vi là quấy rối tình dục thì hành vi quấy rối phải là một hành vi gây ảnh hưởng đến quyết định tuyển dụng hoặc ảnh hưởng tới hiệu suất công việc. Từ đó, CEACR khuyến nghị các quốc gia đề cập quấy rối tình dục tại nơi làm việc trong phạm vi của Công ước 111. Sau đó, cũng theo công ước số 190, thuật ngữ “bạo lực và quấy rối trên cơ sở giới” là hành vi bạo lực và quấy rối trực tiếp nhằm vào con người do tính dục hay giới tính của họ, hoặc tác động tới con người thuộc tính dục và giới tính khác nhau ở mức độ khác nhau, bao gồm cả quấy rối tình dục. Mặt khác, Liên minh châu Âu (EU) và Hội đồng châu Âu (COE) coi quấy rối tình dục là hành vi bất hợp pháp.
Ủy ban châu Âu của EU khái niệm quấy rối tình dục là: “Hành vi không mong muốn của một bản chất tình dục, hoặc những hành vi khác dựa vào giới tính ảnh hưởng đến nhân phẩm của phụ nữ và nam giới trong công việc. Điều này bao gồm hành vi, bằng lời hoặc không lời không mong muốn.” Không giống như định nghĩa quốc tế khác về quấy rối tình dục, Ủy ban châu Âu phân biệt ba dạng quấy rối tình dục tại nơi làm việc bao gồm: Quấy rối tình dục thể chất, lời nói, phi lời nói và cho rằng đó là một loạt các hành vi không thể chấp nhận. Hành vi được xem là quấy rối tình dục nếu đó là hành vi không mong muốn, không đúng, gây khó chịu; hoặc sự từ chối của nạn nhân hay sự chấp nhận các hành vi quấy rối gây ảnh hưởng đến các quyết định liên quan đến việc làm của mình hoặc tiến hành tạo ra một môi trường làm việc đáng sợ, thù địch hay nhục nhã cho nạn nhân. Còn trong đạo luật phân biệt đối xử về giới tính năm 1984 của Úc cho rằng “quấy rối tình dục” là hành vi thúc đẩy tình dục không được hoan nghênh, yêu cầu không được hoan nghênh về các hoạt động hoặc hành vi không được chào đón khác có tính chất tình dục khiến một người cảm thấy bị xúc phạm, sỉ nhục hoặc bị đe dọa.
Như vậy, xét về mặt hoàn cảnh và bản chất thì “quấy rối tình dục” là hành vi bất hợp pháp trong nhiều lĩnh vực (giáo dục; hàng hóa, dịch vụ; nơi ở; câu lạc bộ;.) đặc biệt là tại nơi làm việc. Như vậy có thể thấy các văn bản pháp luật của Úc đề cập đến khái niệm “Quấy rối tình dục” còn đối với “Quấy rối tình dục tại nơi làm việc” không có khái niệm cụ thể. Tuy nhiên Theo Đạo luật Việc làm Công bằng có đề cập đến, “quấy rối tình dục tại nơi làm việc” xảy ra khi một công nhân hoặc một nhóm công nhân: thực hiện một hành động tình dục không mong muốn; đưa ra một yêu cầu không mong muốn về tình dục; tham gia vào 10 các hành vi không mong muốn khác có bản chất tình dục liên quan đến một công nhân khác. Ở Việt Nam, Tổng Liên Đoàn Lao Động và Phòng Thương mại và Công nghiệp phối hợp với Bộ Lao Động Thương binh và Xã hội ban hành Bộ quy tắc ứng xử về quấy rối tình dục tại nơi làm việc, trong đó có định nghĩa rõ quấy rối tình dục.
Theo đó, quấy rối tình dục tại nơi làm việc là hành vi có tính chất tình dục tác động tới nhân phẩm của nữ giới và nam giới, là hành vi không được cho phép, không mong muốn và không hợp lý làm xúc phạm đối với người bị hại, tạo ra môi trường làm việc bất ổn, đáng sợ, thù địch và khó chịu; còn đối với mục đích trao đổi (đưa ra lợi ích nào đó để đổi lấy sự thỏa mãn về tình dục) cũng gây ảnh hưởng tiêu cực đến quy trình tuyển dụng, thăng chức, đào tạo, kỷ luật, sa thải, tăng lương5. Có thể thấy, quấy rối tình dục có thể xảy ra dưới dạng trao đổi như đề nghị, yêu cầu, đe dọa. đổi quan hệ tình dục để lấy những lợi ích liên quan đến công việc6. Như vậy, mặc dù Bộ luật Lao động năm 2012 đã có những bước tiến quan trọng khi lần đầu tiên xuất hiện những quy định liên quan tới “quấy rối tình dục” tại nơi làm việc trên cơ sở các quy định: các hành vi bị cấm, quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động.
nhưng phải tới Bộ luật lao động 2019 thì mới có khái niệm giải thích cụ thể tại Khoản 9 Điều 3: “Quấy rối tình dục tại nơi làm việc là hành vi có tính chất tình dục của bất kỳ người nào đối với người khác tại nơi làm việc mà không được người đó mong muốn hoặc chấp nhận.