phần mở đầu, không đơn thuần chỉ là giải quyết nhu cầu về chổ ở mà phải là tổ chức một môi trường sống đúng nghĩa với đầy đủ các chức năng xã hội của nó. Trước 1970, nhiều tác giả quan niệm chức năng của môi trường ở chủ yếu là để đáp ứng nhu cầu hoạt động có tính chất cư trú. Họ tập trung nghiên cứu vào các hoạt động bên trong căn hộ và chia môi trường ở thành: hoạt động sinh hoạt công cộng và quá trình nghỉ ngơi tái tạo sức lao động. Có tác giả chia hoạt động môi trường ở theo giới hạn không gian vật chất như: hoạt động trong căn hộ và hoạt động ngoài căn hộ.
Nhiều tác giả cho rằng hoạt động ngoài căn hộ chỉ là kéo dài các hoạt động trong căn hộ. Tuy các khái niệm trên không sai nhưng khi ứng dụng vào việc phân tích vấn đề xã hội có sự ảnh hưởng của kinh tế thị 9 trường thì gặp nhiều hạn chế. Thực chất, môi trường ở của con người không chỉ giới hạn trong phạm vi không gian cư trú mà còn liên quan đến các quan hệ xung quanh. Theo định nghĩa: “Môi trường ở theo quan niệm hiện đại là nơi chứa đựng các hoạt động khác nhau theo nhiều chức năng của con người xung quanh nơi cư trú”.
Để làm rõ hơn các khái niệm, các nhà quy hoạch hiện đại đưa ra khái niệm về tiêu chuẩn Môi trường ở bền vững bao gồm: nhà ở, kinh tế và môi trường bền vững trong đó nhà ở bền vững là yếu tố hạt nhân. Quan niệm trên đã mở rộng “không gian ở” thành “môi trường ở” và đưa ra cách tiếp cận mới đã quan tâm nhiều tới việc giải quyết mối quan hệ giữa không gian riêng tư với không gian công cộng và nửa công cộng. Việc giải quyết tốt các mối quan hệ này là vấn đề mang tính nguyên tắc trong quy hoạch mội trường ở. Như vậy, công tác tổ chức môi trường ở chỉ khả thi khi đó là một hệ thống các công việc tiến hành đồng bộ và thống nhất các bộ phận : dân số, đất đai, kinh tế tài chính, kỹ thuật công nghệ, nhà ở, môi trường, vấn đề chính sách nhà nước.
Về việc tổ chức không gian môi trường ở đối với nhà ở công nhân có thể xét trên yêu cầu cụ thể: Các yêu cầu tổ chức cảnh quan và không gian sinh hoạt cộng đồng của khu ở Trong tình hình quỹ đất ngày càng hạn chế thì việc nghiên cứu để đưa ra các phương pháp tổ chức không gian sống, sinh hoạt cộng đồng, vui chơi giải trí đi đôi với dịch vụ thiết yếu trong các khu ở, nhóm ở là rất cần thiết nhằm cải tạo điều kiện sống và nâng cao chất lượng cũng như giá trị cuộc sống của con người. Mở rộng hơn là mục tiêu nâng cao chất lượng cảnh quan của khu vực và đô thị. 10 Ngôi nhà tuy có giá thành hạ, tiện nghi ở mức tối thiểu bên trong nhưng bên ngoài phải đảm bảo môi trường chung tốt và vệ sinh, không phá vỡ cảnh quan đô thị, tránh tình trạng nhếch nhát mất thẩm mỹ, cái đẹp giản dị trong điều kiện cho phép.Tiện nghi nhà ở công nhân chỉ khác tiện nghi nhà ở nói chung ở mức độ mà thôi, nội dung thì không khác nhưng tối giản đến mức cần thiết. Trong khu ở phải đảm bảo yêu cầu tối thiểu về sinh hoạt cộng đồng, dịch vụ và phục vụ chung khu ở, đặc biệt là môi trường nghỉ ngơi, chỗ vui chơi cho trẻ em, trong ngôi nhà chung phải đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật, giao thông, an ninh, phòng cháy, lấy rác… Các yêu cầu về không gian riêng tư, nữa cộng cộng Trong điều kiện về mức thu nhập trung bình thấp, khả năng chi tiêu cho nhà ở hạn chế cũng như tiêu chuẩn ở tối thiểu của đối tượng nhà ở công nhân.
Quan điểm “tối giãn” trong tổ chức không gian kiến trúc, không gian nội thất căn hộ nhà ở công nhân theo tác giả là mang tính nổi trội hơn hết cần nghiên cứu áp dụng. Theo dòng lịch sử, Thụy Điển những năm 1960, trường phái tối giãn (minimalism) với phong cách giản dị nhưng sang trọng đã thịnh hành trong các loại hình nghệ thuật như hội hoạ, kiến trúc, nội thất hiện đại. Đó là triết lý sống không chỉ áp dụng trong kiến trúc mà ngay cả trong ẩm thực, thời trang…thể hiện cái “vừa đủ”, không quá nhiều cũng không quá ít, hay nói như Kts. Mies Vander Rohe: “less is more”: ít tức là nhiều.
Như vậy, cần phải có khái niệm mang tính bao trùm hơn về vấn đề “môi trường ở”, cần phải hiểu “môi trường ở” có nghĩa rộng hơn là một mái che mà là tập hợp của những khoảng riêng tư được quy hoạch, tổ chức một cách hợp lí, đảm bảo an toàn và điều kiện chiếu sáng, thông gió, đi lại thích hợp. Trong “ môi trường ở” đó, con người có thể 11 thực hiện được các sinh hoạt thiết yếu và thực hiện được các chức năng giao tiếp xã hội cần thiết của mình. Ở đó, ngoài chức năng ở, người ta có thể tiếp cận được với trường học,nhà thờ, chợ, siêu thị hay trung tâm mua sắm… với một cự ly thích hợp; ở đó người ta phải được đáp ứng các yêu cầu về chăm sóc sức khỏe, y tế, cũng như các nhu cầu sinh hoạt vui chơi giải trí khác. Một môi trường ở đúng nghĩa bắt buộc không thể tách rời các chức năng xã hội của nó.2 Nhà ở công nhân trong sự phát triển đô thị và công nghiệp 1.1 Đô thị hóa và vấn đề phát triển các KCN, KCX Đô thị hóa và công nghiệp hóa có thể xem như hai người bạn đồng hành trong quá trình phát triển.
Công nghiệp hóa thúc đẩy sự phát triển của đô thị đồng thời là động lực chính của phát triển đô thị. Công nghiệp phát triển không chỉ tạo nguồn công ăn việc làm cho người dân đô thị mà còn là yếu tố cấu thành nên mức tăng GDP cho đô thị và quốc gia. Mặt khác, đô thị hóa sẽ làm chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng từ nông nghiệp sang công nghiệp, từ công nghiệp sang dịch vụ và khoa học, từ đơn giản đến phức tạp, từ hàm lượng trí tuệ nhỏ đến lớn trên cơ sở của sự biến đổi công nghiệp ngày càng nhanh và đều khắp. Với mục tiêu đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020.
Các KCN, KCX đã huy động được đầu tư lớn của các thành phần kinh tế trong và ngoài nước, đã giữ vai trò quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đa dạng hóa ngành nghề, đổi mới công nghệ, nâng cao tính cạnh tranh sản phẩm và doanh nghiệp nhất là trong tiến trình hội nhập và đặc biệt là khi nước ta gia nhập WTO. 12 Cùng với quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ (tỉ lệ đô thị hóa vùng công nghiệp trọng điểm phía Nam 2005 là 48,5%, trong khi cả nước là 27%), phát triển KCN, KCX đã hình thành hệ thống kết cấu hạ tầng hiện đại theo hướng phát triển bền vững tạo tiền đề cho việc hình thành hệ thống hạ tầng khung của vùng lãnh thổ và cả nước. Việc sử dụng hiệu quả tiềm năng đất đai thúc đẩy sự phát triển của thị trường địa ốc, giải quyết việc làm, đào tạo công nhân công nghiệp, xây dựng môi trường lao động, môi trường sinh thái tiến bộ hơn trước và nâng cao trình độ, nếp sống công nghiệp và nâng cao mức sống của người dân. Như vậy, phát triển các KCN, KCX là động lực cho công cuộc đô thị hóa toàn vùng, kéo theo sự tăng trưởng của thị trường lao động, tài chính và dịch vụ.2 Nhà ở cho công nhân là nhu cầu tất yếu trong quá trình phát triển đô thị và khu công nghiệp Từ thế kỷ XVIII, ở các nước phát triển( Anh, Pháp…) đã phải giải quyết nhiều vấn đề bức xúc trong sự phát triển các đô thị công nghiệp.
Trong thực tế mô hình phát triển đô thị và công nghiệp là hai vấn đề có nhiều nội dung khác nhau, nhưng lại có mối quan hệ rất mật thiết về nhiều mặt như tổ chức không gian đô thị, tổ chức cuộc sống và sản xuất. Điều này cũng chính là vấn đề quan trọng của tổ chức không gian đô thị. Tuy nhiên, mô hình phát triển đô thị công nghiệp ở các nước trên thế giới và ở nước ta đều có những đặc trưng khác nhau cần giải quyết để có điểm chung của mô hình phát triển cho đô thị, cho từng khu chức năng chính là các khu công nghiệp và khu ở đô thị. Vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, đã xuất hiện nhiều cuộc tranh luận lớn về sự xuống cấp các đô thị công nghiệp về các mặt xã hội, môi trường, sự nghèo đói và khổ sở của giai cấp công nhân tại các khu 13 ổ chuột ở các đô thị công nghiệp các nước tư bản trên thế giới mà điển hình là nước Anh.
Vấn đề nhà ở của giai cấp công nhân được đấu tranh một cách tích cực bởi các nhà chính trị, xã hội, kinh tế lớn lúc bấy giờ đặc biệt là Ănghen. Theo Ănghen:“Một xí nghiệp công nghiệp lớn cần rất nhiều công nhân cùng làm việc ở một ngôi nhà, những công nhân cần phải sống gần nhau: thậm chí ở một công xưởng không lớn lắm họ tạo thành một nhóm thợ nguyên vẹn. Họ có những nhu cầu nhất định và để thoả mãn các nhu cầu ấy phải có những người khác, thế là xóm thợ trở thành thành phố nhỏ rồi thành thành phố lớn…rồi thành phố công xưởng lớn phát triển nhanh chóng phi thường” [1]. Cũng trong thời kỳ này, Chủ nghĩa Mác xuất hiện khi mà sự bóc lột của chủ nghĩa tư bản đối với giai cấp công nhân trong các đô thị đã lên tới đỉnh điểm.
Các khu nhà ở công nhân cạnh các khu công nghiệp được xem là một mô hình đen tối của chủ nghĩa tư bản với hy vọng cứu vớt lại lòng tin của công nhân với chính họ. Trong thực tế mô hình xây dựng đô thị theo kiểu xây dựng KCN đơn lẻ với các khu ở công nghiệp liền kề đã bị chỉ trích mạnh phải nhường chỗ cho khu ở mới thích hợp và sáng sủa hơn trong các đô thị công nghiệp lớn như Paris, London và các đô thị khác. Những phác họa bằng ngôn ngữ triết học của Ănghen về sau có tầm ảnh hưởng không nhỏ trong lý luận và sáng tác kiến trúc của chủ nghĩa công năng trong thời đại công nghiệp thế kỷ XX.