CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYET CHUNG VE BẢO HIẾM XE CƠ GIỚI 1. Tình hình hoạt động của xe cơ giới tại Việt Nam Mục 18 Điều 3 Luật Giao thông đường bộ quy định khái niệm về xe cơ giới như sau: “Phương tiện giao thông cơ giới đường bộ (sau đây gọi là xe cơ giới) gốm xe 6 tô; máy kéo; ro moóc hoặc sơ mi ro moóc được kéo bởi xe 6 1ô, máy kéo; xe mô tô hai bánh; xe mô tô ba bánh; xe gắn máy ( kế cả xe máy điện) và các loại xe tương tự”. Vì vậy, khái niệm xe cơ giới bao gồm xe ô tô; máy kéo; ro moóc hoặc so mi ro moóc được kéo bởi xe ô tô, máy kéo; xe mô tô hai bánh; xe mô tô ba bánh; xe gắn máy (kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự. Hiện nay, số lượng xe cơ giới đang lưu thông ở Việt Nam đang gia tăng với tốc độ nhanh chóng.
Cu thé, bang sau sẽ thống kê số lượng xe cơ giới trong giai đoạn 5 năm từ 2018 - 2022: Bảng 1.1: Số lượng xe cơ giới tại Việt Nam giai đoạn 2018 - 2022 " Số ô tô Số xe motor lắp rap Chi tiêu Số lượng Tốc độ tăng mới Năm (xe) (%) (xe) 2018 2.82 Nguồn: Thong kê Cục Đăng kiểm Việt Nam Trong quá trình hoạt động, một số đặc điểm sau của xe cơ giới sẽ ảnh hưởng đến quá trình tham gia bảo hiểm: - Số lượng đầu xe tham gia giao thông đường bộ ngày càng tăng và có những thời kỳ tăng đột biến khiến cho số lượng tai nạn xảy ra ngày càng 11 tăng về ca số lượng va mức độ nghiêm trong. Năm 2018 số lượng 6 tô là 2.202 chiếc, tới năm 2022, chỉ sau 5 năm, số lượng ô tô đã là 4.518, tăng tới 1,57 lần. Thêm vào đó, số lượng xe máy được lắp ráp và sản xuất mới hàng năm cũng luôn duy trì ở mức trên 2 triệu chiếc/năm. Điều này làm cho số lượng xe cơ giới tham gia giao thông không ngừng tăng lên qua các năm, vì vậy, càng gia tăng khả năng tai nạn đường bộ.
- Tinh động cơ va tính việt giã chính là hai đặc điêm nôi bật của xe cơ giới, điêu này làm cho xe cơ giới trở thành một phương tiện phô biên, tham gia triệt đê vào quá trình vận chuyên, vì vậy xác xuât rủi ro từ đó cũng tăng cao. - Xe cơ giới tham gia giao thông đường bộ phụ thuộc rat lớn vào điều kiện tự nhiên, thời tiết khí hậu, địa hình, cơ sở vật chất. - _ Xe cơ giới tham gia giao thông đường bộ chịu sự chi phối của một số bộ luật của quốc gia như: Luật Giao thông đường bộ, Bộ Luật dân sự. Không những thế, nó còn chịu ảnh hưởng sâu sắc từ ý thức chấp hành luật giao thông của người dân nên nếu pháp luật không nghiêm thì sẽ tác động xấu đến việc triển khai sản phẩm bảo hiểm, dẫn đến trục lợi bảo hiểm gây thiệt hại cho các bên.
Tai nạn giao thông nói chung và đặc biệt là tai nạn giao thông đường bộ nói riêng đang là vấn đề nan giải đối với tất cả các quốc gia trên thế giới. Việt Nam cũng không ngoại lệ, trong các vấn đề xã hội hiện nay, tai nạn giao thông đang là mối quan tâm hàng đầu của dư luận Xã hội, Đảng và Chính Phủ. Ảnh hưởng của nó để lại đối với sức khoẻ con người và sự phát triển của xã hội là rất nặng né. Dưới đây là một số thông kê về số vụ tai nạn giao thông đường bộ ở Việt Nam trong giai đoạn 2018 — 2022: 12 Bảng 1.2: Tỷ lệ số vụ tai nạn giao thông đường bộ giai đoạn 2018 - 2022 Chỉ tiêu | Số vụ tai nạn | Số vụ tai nạn Ty lệ tai nạn Số người Số người bị giao thông | giaothông | giao thông | chết do tai | thương do đường bộ đường bộ/ | nạn giao | tai nạn giao (vu) tổng số vụ tai] thông |thông đường Năm (vu) nan giao đường bộ bộ thông (người) (người) (%) 2018 19.001 Nguồn: Cong thông tin điện tử Bộ Công an Từ bảng trên có thé thay, tỷ lệ tai nạn giao thông đường bộ luôn chiếm tỷ lệ rất cao trong tông số vụ tai nạn giao thông trên toàn quốc.
Trong khi những tai nạn đường sắt và hàng hải chỉ chiếm một phần nhỏ, dưới 10% tổng số vụ tai nạn giao thông, thì tai nạn giao thông đường bộ luôn chiêm tỷ lệ rất lớn, từ 70% đến 99%. Trong vòng 5 năm, số vụ tai nạn giao thông đường bộ vẫn luôn dao động từ 10.000 vụ/năm, tuy nhiên, so sánh những số liệu năm 2018 và 2022 cho thấy những con số đã giảm đáng kể, cụ thể, số vụ tai nạn giao thông đường bộ năm 2022 chỉ còn bằng 57,4% so với năm 2018, các chỉ số về số người chết và bị thương đều giảm đáng kẻ, số người chết giảm gần 30% và số người bi thương giảm tới gần 53%. Đây là một dấu hiệu đáng mừng, tuy nhiên, các con số lạc quan này có thé được giải thích băng một số lý do sau: - Su bùng phát của dich Covid 19 và chính sách hạn chế của Nhà nước. Dé đối phó với dịch Covid 19, Nhà nước ta đã thực hiện chính sách giãn cách xã hội, 13 vi vậy, lượng người dân tham gia giao thông giảm mạnh, từ đó, sô vụ tai nan giao thông cũng giảm mạnh.
- Ly do thứ hai có thé ké tới chính là sự nâng cấp về hệ thống hạ tang giao thông đường bộ. Điều này giúp sự di chuyên, lưu thông của người dân trở nên dé dàng hơn, hạn chế va chạm giao thông. Tuy nhiên, số vụ tai nạn giao thông đường bộ vẫn duy trì ở 5 con số, vẫn còn là một con số khá lớn, dé lại rất nhiều nỗi đau và tôn that cho mỗi cá nhân và gia đình. Nguyên nhân chủ yêu của tai nạn giao thông có thê kê tới một sô lý do nôi bật như sau: - Sự gia tăng của các phương tiện giao thông đường bộ.
Ở Việt Nam, xe cơ giới là phương tiện di chuyển phổ biến nhất. Thêm vào đó, xe cơ giới ngày càng có nhiều chủng loại, giá thành phù hợp, điều này làm tăng mật độ xe cơ giới tham gia giao thông, cũng đồng nghĩa với việc gia tăng xác suất tai nạn giao thông. - Ý thức chấp hành luật khi tham gia giao thông của người dân vẫn còn hạn chế. Hiện tượng lấn chiếm via hè, vượt đèn đỏ, phóng nhanh vượt au, đi ngược chiều vẫn xảy ra thường xuyên, gây ảnh hưởng rất lớn cho sự an toàn của người tham gia giao thông và trật tự xã hội.
Lý thuyết về bảo hiểm xe cơ giới 1. Vai trò và sự cần thiết khách quan của bảo hiểm xe cơ giới 1. Vai trò của bảo hiểm xe cơ giới a. Đối với cá nhân Trong cuộc sống quý giá này, rủi ro là điều không thể dự đoán trước.
Nó có thé xảy ra với bat cứ ai, trong bat cứ tình huống nào và luôn đi kèm với những thiệt hại về người và tài sản ở mức độ từ nhẹ đến nặng. Vì vậy, với sự trợ giúp đắc lực và kịp thời của bảo hiểm xe cơ giới, khách hàng có thể giảm bớt gánh nặng tài chính, được xoa dịu những nỗi đau và tôn thất do tai nạn gây ra, từ đó nhanh chóng hồi phục thé chat và tinh than để ổn định sản xuất. Đồng thời, nó tạo cho người tham gia giao thông tâm lý thoải mái, tự tin khi đi đường. Biết rằng mình sẽ được chăm sóc mọi mặt và có một nơi để dựa vào dù có bất kỳ chuyện gì xảy ra quả thật là một cảm giác hêt sức an tâm.
14 Bên cạnh đó, các loại bảo hiêm TNDS cũng giúp đỡ khách hàng trong việc làm tròn trách nhiệm sau tai nạn, xoa dịu môi quan hệ giữa chủ xe và người bị nạn, từ đó giảm thiểu những mâu thuẫn và hậu quả đáng tiếc xảy ra. Đôi với xã hội Không chỉ giảm bớt gánh nặng tài chính cá nhân sau tai nạn, bao hiém xe cơ giới cũng đã và đang làm tròn vai trò trong việc giữ gìn an ninh, trật tự xã hội. Duy trì cân băng tài chính của mỗi cá nhân, cũng chính là đang duy trì cân bằng tài chính của xã hội. Cá nhân là phan tử của xã hội, mỗi người ôn định được cuộc sông của mình thì cả xã hội mới có thê phát triên.
Bên cạnh đó, những biện pháp đê phòng và hạn chê tôn thât của các doanh nghiệp bảo hiêm như tuyên truyên, nâng cao ý thức châp hành Luật Giao thông đường bộ của người dân, hỗ trợ lắp gương cau lỗi tại nhưng điểm cua gấp hoặc bi che chăn tâm nhìn, làm biên báo giao thông ở những đoạn đường nguy hiêm có nguy cơ xảy ra tai nạn cao. cũng góp công lớn vào việc đảm bảo an toàn giao thông, tránh được những sự cô ngoài ý muôn làm rôi loạn xã hội và thiệt hại của công. Ngoài ra, việc hoà giải và giúp chủ xe hoàn thành trách nhiệm bôi thường sau tai nạn đã góp phân giảm thiểu tai nạn, giảm thiểu mâu thuẫn xã hội và giữ gìn an ninh trật tự công cộng. Đôi với Nha nước Phí bảo hiêm không chỉ là nguôn thu dang kê đôi với doanh nghiệp bao hiêm, mà còn chiêm vai trò đáng kê trong hoạt động của Nhà nước.
Phí bảo hiêm, ngoài việc bôi thường và giảm bớt rủi ro, còn là nguôn chi phí cho những hoạt động đầu tư, xây dựng, nâng cấp hạ tầng đất nước. Bên cạnh đó, hoạt động kinh doanh bảo hiểm tạo công ăn việc làm cho rất nhiều người, từ đó giảm bớt gánh nặng và tăng thu cho Ngân sách Nhà nước. Sự can thiết khách quan của bảo hiểm xe cơ giới Trong quá trình tham gia giao thông, tai nạn vẫn xảy ra hàng ngày, hàng giờ, mỗi vụ tai nạn đều phát sinh những ton thất cả về người và tài sản. Sau mỗi vụ tai nạn, cả chủ xe và nạn nhân đều phải chịu tồn thất nặng nề về thé chất và tài chính và cần trao đồi, hoà giải và bồi thường.
Tuy nhiên, có rất nhiều trường hợp chủ xe gây tai nạn bỏ trốn, hoặc không có khả năng chỉ trả bồi thường, việc giải quyết bồi thường trở nên khó khăn, lợi ích của nạn nhân không được đảm bảo, 15 phát sinh nhiều mâu thuẫn và bi kịch xã hội, từ đó nhu cầu lập ra một quỹ nhằm bu đắp những ton thất sau tai nạn là một điều tat yếu.