CHƯƠNG 1: TONG QUAN VE THU NHAP CUA NGƯỜI LAO DONG VA PHUONG PHAP NGHIEN CUU 1. Những van đề chung về thu nhập của người lao động 1. Khái niệm chung về thu nhập Khái niệm về thu nhập có thé được tiếp cận theo rất nhiều cách khác nhau. Theo thư viện pháp luật “Thu nhập là khoản của cải thường được tính thành tiền mà một cá nhân, doanh nghiệp hoặc một nền kinh tế nhận được trong một khoảng thời gian nhất định từ công việc, dịch vụ hoặc hoạt động nào đó”.
Theo định nghĩa của bách khoa toàn thư “Thu nhập cá nhân trong kinh tế là thuật ngữ đề cập đến tất cả các khoản thu nhập của một cá nhân kiếm được trong một niên độ thời gian nhất định từ tiền lương, đầu tư và các khoản khác, nó là tổng hợp của tất cả các thu nhập thực nhận bởi tất cả các cá nhân hoặc hộ gia đình”. Thu nhập cũng là mối quan tâm chính của người lao động khi họ quyết định lựa chọn gia nhập vào lực lượng lao động trong khu vực dịch vụ. Thu nhập có thé được hiểu là khoản tiền mà người lao động nhận được khi họ đã hoàn thành một công việc nào đó theo Nguyễn Ngọc Quân và Nguyễn Văn Điềm (2010). Theo Đào Thanh Hương(2003) thu nhập bao gồm cả tiền lương và tiền công, ngoài ra còn có phụ cấp từ lao động, một số khoản thu khác như được trợ cấp,.
Theo Tổng Cục Thống Kê (2014), thu nhập của người lao động được định nghĩa như sau: “Thu nhập từ việc làm là khoản tiền công dưới dạng tiền mặt hoặc hiện vật trả cho người làm công ăn lương đối với thời gian hoặc công việc đã làm, cùng với khoản tiền trả cho thời gian không làm việc như nghỉ phép hoặc nghỉ hè hàng năm, nghỉ lễ hoặc các thời gian nghỉ khác được trả lương, bao gồm cả những khoản tiền công khác được nhận thường xuyên có tính chất như lương trước khi người chủ khấu trừ”. Samuelson và Nordhalls (2001) lại cho rằng thu nhập là tiền lương, trả lãi, cổ tức và các nguồn thu khác mà một cá nhân hay một quốc gia nhận được trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm). Qua các nghiên cứu trước đây vê khái niệm thu nhập, sinh viên xây dựng riêng khái niệm phục vụ cho đề tài như sau: thu nhập của người lao động là tất cả các khoản tién lương mà doanh nghiệp, người sử dụng lao động trả cho người lao động dựa theo số lượng và chất lượng công việc họ đã thực hiện, tạo ra bên cạnh tiền lương là khoản tiền chính của thu nhập còn có các khoản tién phụ cấp, các khoản tiên thưởng,. được tính chung vào thu nhập của người lao động.
Nội dung thu nhập của người lao động Thu nhập bao gồm tiền lương, thưởng, các khoản phụ khác và các nguồn thu khác không tính vào chỉ phí sản xuất kinh doanh (SXKD) và còn cả bảo hiểm xã hội (BHXH) trả thay cho lương: + Tiền lương, thưởng và các khoản phụ cấp khác: tiền lương, tiền công, các khoản phụ cấp và tiền thưởng mà khoản tiền đó được tính vào chỉ phí SXKD thì đó đều được coi là thu nhập. Ví dụ như tiền làm thêm giờ, tiền phụ cấp ăn trưa, phụ cấp đi lại, phụ cấp tiền điện thoại di động. Người sử dụng lao động có thêt chị trả cho người lao động bằng nhiều hình thức khác nhau như bằng tiền mặt, trả qua tài khoản ngân hàng hay thậm chí là bằng hiện vật như thực phẩm, đồ uống, quan áo. + Các khoản thu nhập khác: Một số khoản chi cho người lao động sẽ được tính vào thu nhập của người lao động nhưng không hạch toán vào chi phí SXKD mà sẽ được lấy từ quỹ khen thưởng, phúc lợi.
của doanh nghiệp. + Ngoài ra còn có BHXH trả thay cho lương: Mỗi người lao động khi tham gia lao động sẽ có quyền được tham gia BHXH, BHXH này sẽ do doanh nghiệp chỉ trả cho người lao động trong trường hợp người lao động ốm đau, bệnh tật, thai sản hay tai nạn lao động đúng theo quy định của cơ quan BHXH hiện nay. Do thu nhập bao gồm rất nhiều khoản ngoài tiền lương nên thu nhập được hiểu theo 2 cách khác nhau: + Thứ nhất: Thu nhập của người lao động được hiểu theo một cách đơn giản là tiền lương, thưởng và các khoản phụ cấp khác có tính chất như lương cộng với các khoản thu nhập khác không tính vào chi phí SXKD. + Thứ hai: Thu nhập bao gồm tiền lương, thưởng và các khoản phụ cấp khác và đóng góp của doanh nghiệp về BHXH, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn cho người lao động.
Thu nhập bình quân đầu người 1 tháng được tinh băng cách chia tổng thu nhập trong năm của hộ dân cư cho số nhân khẩu của hộ và chia cho 12 tháng (Theo Tổng cục Thống kê). Tóm lại, thu nhập là một phạm trù kinh tế rất nhiều cách hiểu khác nhau với nhiều nội dung khác nhau. Theo tôi, thu nhập là số tiền mà người lao động nhận được khi họ đem sức lao động của mình tham gia vào quá trình SXKD tạo ra của cải, vật chất. Theo tô chức lao động Quốc tế (ILO), thu nhập được ấn định bằng thỏa thuận hợp đồng giữa người sử dụng lao động và người lao động về một công việc đã, đang và sẽ được thực hiện.
Vai trò của thu nhập doi với người lao động - Về phương diện xã hội: Với mỗi chế độ xã hội khác nhau, thu nhập đều có chung chức năng đó là đảm bảo tái sản xuất sức lao động cho lực lượng lao động. Tuy nhiên, mức độ tái sản xuất hay mở rộng sản xuất cho mỗi đối tượng lao động khác nhau sẽ khác nhau. Dé có thé tái sản xuất sức lao động, mức thu nhập mà người lao động nhận được phải đảm bảo tối thiểu mức tiêu dùng cá nhân của người lao động và đi kèm gia đình của lao động đó. Dé thực hiện được điều này, nhà nước phải có những quy định như sau: + Nhà nước phải ra quy định về mức lương tối thiểu sao cho người lao độngc 6 thé đảm bảo được nuôi sống được chính người lao động và gia đình họ.
Điều này sẽ được áp dụng với bất cứ doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hay bat cứ người sử dung lao động nao. + Mức lương cơ bản được xác định trên cơ sở mức giá hàng hóa mà con người tiêu dùng trong sinh hoạt hàng ngày, nó phụ thuộc vào biến động của giá cả đặc biệt khi có sự gia tăng của lạm phát nhà nước sẽ điều chỉnh thu nhập sao cho vẫn có thê đảm bảo mức sống tối thiểu của người lao động. Dé có thé tận dụng được đòn bẩy thu nhập, đòi hỏi doanh nghiệp phải hết sức coi trọng vấn đề về thu nhập. Người sử dụng lao động phải đặc biệt chú ý để tính công bang giữa người với người được phát huy.
Điều này góp phan rất lớn tạo nên sự gắn kết, đoàn kết giữa những người lao động với nhau không ai ghen tị với ai tất cả vì một mục tiêu chung là phát triển doanh nghiệp từ đó lợi ích bản thân cũng được nâng cao. Tuy nhiên, nêu bat cứ một doanh nghiệp nao dé xảy ra mâu thuần nội bộ giữa những người lao động với nhau hoặc thậm chí là mâu thuẫn giữa người alo động với cấp trên thì hậu quả gây ra cũng khá lớn có thé dẫn đến sự phá hoại ngầm dẫn đến sự lãng phí to lớn trong sản xuất. Tóm lại, trong mọi phương diện xã hội thu nhập đóng vai trò rất quan trọng, nó không chỉ đảm bảo đời sống cho người lao động am còn là công cụ dé quản lý doanh nghiệp, là đòn bây kinh tế hiệu quả. - Về phương điện kinh tế: Thu nhập là một trong những yếu tố đóng vai trò hết sức quan trọng đối với chất lượng công việc, thu nhập góp phần thúc đây năng suất lao động gia tăng mạnh mẽ.
Chính vì điều này, nền kinh tế của một quốc gia cũng được tăng lên. Dé trở thành đòn bây kinh tế, những người sử dụng lao động phải khuyến khích người lao động nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả công việc. Công sức của người lao động bỏ ra nhiều hay ít đều phải được trả thù lao xứng đáng với công sức mà họ bỏ ra. Bội số của thu nhập phải được phản ánh đúng sự khác biệt về thu nhập giữa loại lao động có trình độ thấp nhất và cao nhất được hình thành trong quá trình lao động.
Chính vì vậy, thu nhập đóng vai trò rất quan trọng trong việc ôn định và phát triển kinh tế hộ gia đình cũng như kinh tế của cả quốc gia. Hơn nữa, thu nhập cũng góp một phan khá quan trọng đối với tổng thu nhập quốc nội của một quốc gia. Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của người lao động 1. Các yếu tô thuộc về cá nhân người lao động Mincer (1958, 1974) cùng với Becker (1964) chỉ ra rằng giáo dục và dao tao có thể làm tăng năng suất của các cá nhân chính bằng kỹ năng và kiến thức của họ.
Và kỹ năng, kiến thức đó lại dẫn đến kết quả là làm tăng lợi nhuận cho các cá nhân. Vì vậy, theo lý thuyết vốn nhân lực thì giáo dục và đào tạo là yếu tố quan trọng cho hoạt động kinh tế của một cá nhân. Nghiên cứu của Keshab Bhattarai & Tomasz Wisniewski (Determinants of wages and labour supply in the UK — 2002) cho rang có một điểm chung giữa các nhà kinh tế học là trình độ học van, tuổi, giới tính, kinh nghiệm là những yếu tố ảnh hưởng tới thu nhập của người lao động. Theo nghiên cứu của Abdulai & CroleRees (2001), Demurger và cộng sự, thu nhập của người lao động bị anh hưởng bỏi các yếu tô như: giới tính, độ tudi, kinh nghiệm làm việc và trình độ học van là những yếu tố chính tác động tới thu nhập.
Smith (1904) chỉ ra rằng xã hội có 3 giai cấp: địa chủ - địa tô, nhà tư bản — lợi nhuận và công nhân - tiền lương. Trong đó thu nhập phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế của mỗi quốc gia, có nghĩa là nếu tốc độ tăng của cải của quốc gia tăng thì lương tăng và ngược lại. Ngoài ra, lương cũng bị ảnh hưởng bởi một số đặc điểm liên quan đến lao động như điều kiện lao động, tính chất công việc, trình độ chuyên môn, nghề nghiệp, khu vực làm việc.