CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Nội dung chính của chương này là trình bày tổng quan các nghiên cứu về mô hình đo lường hành vi ĐCLN cũng như các nghiên cứu về các nhân tố tác động đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận. Từ đó xác định được xu hướng phát triển của các nghiên cứu trước cũng như xác định được định hướng cho nghiên cứu này. CÁC NGHIÊN CỨU VỀ MÔ HÌNH ĐO LƯỜNG ĐIỀU CHỈNH LỢI NHUẬN 1.1 Mô hình Healy (1985) Mô hình Healy (1985) có thể được coi là mô hình đi đầu trong đo lường hành vi ĐCLN thông qua việc sử dụng phần dồn tích có thể điều chỉnh (DA).2 Mô hình DeAngelo (1986) DeAngelo (1986) giả định rằng các biến kế toán không thể điều chỉnh (NDA) sinh ra là ngẫu nhiên và bằng với tổng số biến kế toán dồn tích (TA), mô hình này tính chênh lệch giữa tổng dồn tích của 2 kỳ trên tài sản để xác định dồn tích có điều 7 chỉnh. Biểu hiện của hành vi ĐCLN được xác định khi có sự chênh lệch giữa NDA ở thời điểm t và thời điểm t-1.
Từ đó ta có công thức: Trong đó: DAit: Biến dồn tích bất thường TAit: Tổng biến dồn tích năm t TAit-1: Tổng biến dồn tích năm t-1 Ait -1 : Tổng tài sản của năm t-1 1.3 Mô hình Jones (1991) Nhận ra được những nhược điểm của các mô hình trước, Jones (1991) cho rằng sự biến đổi về doanh thu sẽ dẫn đến sự biến đổi của các yếu tố khác, bao gồm cả lợi nhuận. Để khắc phục nhược điểm này, Jones (1991) xây dựng một mô hình mới và sử dụng biến doanh thu (REV) và biến tài sản cố định (PPE) như là các biến độc lập để đo lường DA. Phần giá trị dồn tích NDA và DA sẽ được tính bằng phương trình sau: 1 REVit PPEit NDAit = β1 + β2 + β3 Ait−1 Ait−1 Ait−1 DAit = TAit/Ait-1 - NDAit Trong đó: NDAit: Phần dồn tích không điều chỉnh được tại công ty i năm t Ait-1: Tổng tài sản cuối năm t-1 tại công ty i ∆REVit: Doanh thu năm t trừ Doanh thu năm t-1 tại công ty i PPEit: Nguyên giá TSCĐ hữu hình cuối năm t tại công ty i TAit : tổng dồn tích năm t của công ty i β1, β2, β3: các tham số ước tính 1.4 Mô hình của Dechow, Sloan & Sweeney (1995) Dechow, Sloan và Sweedney (1995) là mô hình điều chỉnh từ mô hình gốc Jones (1991) khi cho rằng mô hình gốc sử dụng biến doanh thu để tính phần dồn tích bất 8 thường sẽ bị thiếu đáng tin cậy khi biến doanh thu bị khai khống. Chính vì thế Dechow, Sloan và Sweedney (1995) đã bổ sung thêm biến nợ phải thu cho mô hình nhằm hạn chế sự chênh lệch của doanh thu và các khoản phải thu, từ đó khắc phục được hạn chế của mô hình gốc.
Phần giá trị dồn tích NDA và DA được tính bằng phương trình sau: 1 REVit−RECit PPEit NDAit = β1 + β2 + β3 Ait−1 Ait−1 Ait−1 DAit = TAit/Ait-1 - NDAit Trong đó: NDAit: Phần dồn tích không điều chỉnh được tại công ty i năm t Ait-1: Tổng tài sản cuối năm t-1 tại công ty i ∆REVit: Doanh thu năm t trừ Doanh thu năm t-1 tại công ty i ∆RECit: Phải thu khách hàng năm t trừ ( - ) Phải thu khách hàng năm t-1 PPEit: Nguyên giá TSCĐ hữu hình cuối năm t tại công ty i TAit : tổng dồn tích năm t của công ty i β1, β2, β3: các tham số ước tính 1.5 Mô hình Kothari, Leone và Wasley (2005) Kothari, Leone và Wasley (2005) là mô hình phát triển dựa trên mô hình của Jones (1991) và Mô hình Dechow, Sloan và Sweedney (1995) khi cho rằng (ROA) là một yếu tố cần thiết cần phải bổ sung thêm vào mô hình nhằm đảm bảo sự chính xác và từ đó rút ra những kết luận chính xác hơn khi doanh nghiệp có sự tăng trưởng quá lớn trong một khoảng thời gian nào đó. Trong đó: NDAit: Phần dồn tích không điều chỉnh được tại công ty i năm t Ait-1: Tổng tài sản cuối năm t-1 tại công ty i ∆REVit: Doanh thu năm t trừ Doanh thu năm t-1 tại công ty i ∆RECit: Phải thu khách hàng năm t trừ ( - ) Phải thu khách hàng năm t-1 PPEit: Nguyên giá TSCĐ hữu hình cuối năm t tại công ty i TAit : tổng dồn tích năm t của công ty i 9 ROAit-1 là lợi nhuận trên tổng tài sản của năm t -1 1.6 Mô hình Raman and Shahrur (2008) Mô hình Raman và Shahrur (2008) là mô hình phát triển dựa trên mô hình điều chỉnh Jones (1991) và mô hình của Kothari, Leone và Wasley (2005) khi bổ sung thêm một biến độc lập là Tỷ số giữa giá trị sổ sách so với giá thị trường của cổ phiếu đó. Raman và Shahrur (2008) cho rằng các công ty thường có phần giá trị dồn tích cao khi mà công ty đó có cơ hội tăng trưởng cao. Trong đó: NDAit: Phần dồn tích không điều chỉnh được tại công ty i năm t Ait-1: Tổng tài sản cuối năm t-1 tại công ty i ∆REVit: Doanh thu năm t trừ Doanh thu năm t-1 tại công ty i ∆RECit: Phải thu khách hàng năm t trừ ( - ) Phải thu khách hàng năm t-1 PPEit: Nguyên giá TSCĐ hữu hình cuối năm t tại công ty i TAit : tổng dồn tích năm t của công ty i ROAit-1 là lợi nhuận trên tổng tài sản của năm t-1 BM: Giá trị sổ sách vốn CSH/ Giá trị thị trường vốn CSH Nghiên cứu về ĐCLN đã được thực hiện rất nhiều trên thế giới từ lúc bắt đầu (vào những năm 80) và cũng là chủ đề được nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam quan tâm trong thời gian gần đây.
Mô hình Healy (1985) được đánh giá là mô hình đi đầu trong đo lường hành vi ĐCLN, tuy nhiên không được các nhà nghiên cứu sử dụng nhiều do các xác định phần giá trị dồn tích còn nhiều điểm chưa hợp lý. DeAngelo 10 (1986) cho rằng “dồn tích bất thường chính là mức chênh lệch giữa tổng dồn tích của hai kỳ kế tiếp nhau trên tổng tài sản”. Vì trong tổng dồn tích đã chứa đựng cả khoản dồn tích bất thường nên kết luận này vẫn chưa nhận được sự đồng tình từ các nhà nghiên cứu. Chen (2011) trong nghiên cứu của mình đã đưa ra nhận định rằng mô hình Jones (1991) và các mô hình điều chỉnh của nó là mô hình tốt nhất để đo lường hành vi ĐCLN.
CÁC NGHIÊN CỨU VỀ NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HÀNH VI ĐIỀU CHỈNH LỢI NHUẬN Tổng quan về các mô hình đo lường ĐCLN giúp chúng ta có thể thấy được sự thay đổi và hoàn thiện của các mô hình nhằm cho ra kết quả chính xác và thuyết phục hơn cho các nghiên cứu. Ngoài tổng quan các mô hình đo lường về ĐCLN, nghiên cứu cũng sẽ tổng hợp các nhân tố, nhóm nhân tố tác động đến hành vi ĐCLN mà các nghiên cứu trước đây đã làm nhằm tìm ra nhóm nhân tố phù hợp với bối cảnh của TTCK Việt Nam. Các nghiên cứu về nhân tố tác động đến hành vi ĐCLN đã được thực hiện rất nhiều tại các quốc gia phát triển như Mỹ (Li, 2010), Pháp (Fathi, 2013), Anh (Marinakis, 2011). Tại Việt Nam, cũng có rất nhiều nghiên cứu như: Phạm Thị Bích Vân (2012), Nguyễn Hà Linh (2017) hay Ngô Hoàng Điệp (2018).
Các nghiên cứu về ĐCLN thường có hai hướng đó là nghiên cứu về một tổ hợp các nhân tố ảnh hưởng hoặc đi sâu vào một nhân tố ảnh hưởng cụ thể. Nghiên cứu của Charfeddine, Riahi và Omri (2013) thực hiện tại Tunisia chia các yếu tố ảnh hưởng thành hai nhóm chính “khuyến khích” và “hạn chế”. Nhóm “khuyến khích” là nhóm 3 biến thuộc đặc điểm doanh nghiệp như hệ số nợ, quy mô công ty, hiệu quả hoạt động kinh doanh; nhóm “hạn chế” gồm sáu biến: quy mô HĐQT, chức năng của CEO và chủ tịch HĐQT, quyền sở hữu của người quản lý, cấu trúc sở hữu, kiểm toán và chính sách cổ tức. Fathi (2013) nghiên cứu thực hiện tại Pháp chia các nhân tố thành hai nhóm “đặc điểm công ty” và “cơ chế kiểm soát”, trong đó nhóm “đặc điểm công ty” bao gồm các biến như hệ số nợ, hiệu quả hoạt động kinh doanh, ngành nghề và tình trạng niêm yết; nhóm “cơ chế kiểm soát” bao gồm: đặc điểm 11 HĐQT, chất lượng kiểm toán và cơ cấu sở hữu.
Nghiên cứu của Sahlan (2011) được thực hiện tại Malaysia chia các nhóm nhân tố ảnh hưởng thành 4 nhóm chính: đặc điểm kiểm toán, đặc điểm hội đồng quản trị, quy mô công ty và cơ cấu sở hữu. Nghiên cứu của Li (2010) thực hiện tại Mỹ thì chỉ nghiên cứu một nhóm nhân tố liên quan đến đặc điểm của doanh nghiệp. Hướng nghiên cứu đi sâu vào một nhân tố cụ thể như của Kim và cộng sự (2003), nghiên cứu mối quan hệ giữa quy mô công ty và ĐLCN. Tổng quan các công trình nghiên cứu về nhóm các nhân tố hay một nhân tố riêng lẻ sẽ là tiền đề quan trọng giúp tác giả có thêm nhiều đánh giá chính xác về các nhân tố ảnh hưởng đến ĐCLN, đặc biệt là tại các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam.1 Các nhân tố thuộc đặc điểm doanh nghiệp 1.1 Hệ số nợ Hệ số nợ là một chỉ số quan trọng trong đánh giá một doanh nghiệp, đặc biệt là trong trường hợp cần huy động nguồn vốn, đi vay, thu hút đầu tư từ cổ đông nhằm bổ sung nguồn vốn trong sản xuất kinh doanh, giảm thiểu các chi phí đại diện phát sinh trong quan hệ đại diện giữa nhà quản lý - cổ đông (Jensen và Meckling, 1976).
“Hệ số nợ phản ánh cấu trúc tài chính của công ty, nó được đo lường thông qua quan hệ giữa hai nguồn vốn cơ bản (nợ/vốn chủ sở hữu), hệ số này thể hiện cơ cấu các nguồn tài trợ nên tài sản của một công ty” (Charfeddine, Riahi và Omri, 2013; Alsharairi và Salama, 2012). Nghiên cứu của Charfeddine, Riahi và Omri (2013) Charfeddine, Riahi và Omri (2013) nghiên cứu các yếu tố quyết định đến hành vi ĐCLN ở các nước mới nổi thông qua ví dụ về Tunisia. Dữ liệu được thu thập từ 19 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Tunisia trong giai đoạn 2003-2009. Nghiên cứu sử dụng ba mô hình của Dechow et al.
(1995) (mô hình Jones điều chỉnh), Kothari et al. (2005) và Raman và Shahrur (2008) để ước tính các khoản dồn tích. Để kiểm tra các yếu tố quyết định ĐCLN, phần dồn tích của các mô hình này được hồi 12 quy trên một tập hợp các biến giải thích được giả thuyết là có tác động đến ĐCLN. Có hai nhóm chính được nghiên cứu phân ra gồm “khuyến khích” và “hạn chế”.