Chương I: Cơ sở lý luận về phát triển bảo lãnh ngân hàng Chương 2: Thực trạng hoạt động bảo lãnh tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam — Chỉ nhánh Quy Nhơn. Chương 3: Giải pháp phát triển hoạt động bảo lãnh tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam - Chỉ nhánh Quy Nhơn 6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Hoạt động bảo lãnh ngân hàng tại Việt Nam nói chung và tỉnh Bình Định nói riêng hiện nay chưa thực sự phát triển mặc dù đây là hoạt động được hầu hết các NHTM quan tâm. Những năm gần đây, nhu cầu về bảo lãnh ngân hàng trong nền kinh tế ngày càng gia tăng, đặc biệt bảo lãnh nước ngoài.
Tuy nhiên, các tài liệu nghiên cứu về hoạt động này trên khía cạnh học thuật còn khá hạn chế. Mặc khác, việc sử dụng bảo lãnh ngân hàng chưa đa dạng chỉ tập chung vào một vài loại bảo lãnh cơ bản như: bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh thanh toán, chưa có phát sinh nhiều những loại bảo lãnh mang tính chất sự vụ của từng giao dịch. Với đề tài “Phát triển hoạt động. bảo lãnh tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam - Chi nhánh Quy Nhơn”, đây là một đề tài tương đối mới tại chỉ nhánh chưa được nghiên cứu vì vậy, luận văn này sử dụng một số kết quả của các nghiên cứu dưới đây để làm nền tảng lý luận và minh chứng cho những nhận định được trình bày.
Cụ thể như sau: 1. “Giải pháp hoàn thiện và phát triển nghiệp vụ bảo lãnh tại Ngân hàng. Ngoại thương Chỉ nhánh Thành phố Hồ Chí Minh” năm 2007 của tác giả Nguyễn Thị Thơm đã đưa ra khái niệm về bảo lãnh ngân hàng, hệ thống hóa được nghiệp vụ bảo lãnh, cơ sở pháp lý trong nước và quốc tế trong hoạt động bảo lãnh ngân hàng. Tuy nhiên, chỉ đi sâu vào phân tích quy trình nghiệp vụ bảo lãnh trong nước và nước ngoài, ít đề cập đến sự phát triển của hoạt động bảo lãnh.
Trên cơ sở đó, đã giúp tác giả tạo lập được hệ thống nghiệp vụ bảo lãnh cho luận văn này. “Giải pháp phát triển hoạt động bảo lãnh tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam” năm 2009 của tác giả Nguyễn Hà đã khái quát về hoạt động bảo lãnh ngân hàng, nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng, hệ thống hóa về các dạng rủ ro đặc thù trong hoạt động bảo lãnh ngân hàng đồng thời cũng đưa ra các giải pháp phát triển bảo lãnh ngân hàng chủ yếu dựa trên nâng cao trình độ nhân viên ngân hàng và cải thiện nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng. Tuy nhiên, chưa đi sâu phân tích sự phát triển hoạt động bảo lãnh trên từng loại bảo lãnh để đề ra những chính sách thích hợp cho sự phát triển của từng loại bảo lãnh và từng thời gian. Trên cơ sở đó tác giả đã hệ thống được hoạt động bảo lãnh ngân hàng cho luận văn này đồng thời phát triển thêm sự phân tích, đánh giá cụ thể của từng loại sản phẩm trong hoạt động bảo lãnh ngân hàng từ đó có những giải pháp cụ thể cho việc phát triển hoạt động bảo lãnh của từng loại sản phẩm trong từng thời gian khác nhau phù hợp với tình hình hiện tại của VCB Quy Nhơn.
“Quản trị rủi ro trong các Ngân hàng thương mại Việt Nam” năm 2008 của tác giả Nguyễn Tiến Long đã nêu rõ các loại rủi ro trong hoạt động. kinh doanh ngân hàng trong đó có rủi ro trong hoạt động bảo lãnh ngân hàng, nêu ra được những nguyên nhân, yếu tố gây nên rủi ro và những hậu quả mà rủi ro trong hoạt động ngân hàng để lại, từ đó đã có những giải pháp trong việc quản lý rủi ro trong hoạt động ngân hàng. Từ những cơ sở đó tác giả đã nắm bắt được sự quan trọng của rủi ro trong hoạt động bảo lãnh ngân hàng và các nguyên nhân, yếu tố cơ bản gây ra rủi ro, phân loại nợ xấu và việc trích lập dự phòng rủi ro theo các quy định hiện hành từ đó có những giải pháp quản lý rủi ro trong hoạt động bảo lãnh ngân hàng một cách cụ thể. “Nâng cao công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng đầu tư và Phát triển — Chi nhánh Tân Bình” năm 2009 của tác giả Nguyễn Tấn Khoa ngoài các vấn đề liên quan đến rủi ro tín dụng, tác giả đã nêu ra được việc quan trọng của xếp hạn tín dụng nội bộ của ngân hàng và hệ thống đánh giá, cham điểm và quản lý tài sản bảo đảm.
Các kết quả này đã giúp tác giả hiểu rõ tầm quan trọng của việc chấm điểm và quản lý tài sản bảo đảm và xếp hạn tín dụng nội bộ cho từng khách hàng từ đó đánh giá năng lực tài chính của từng khách hàng thông qua việc xếp hạn tín dụng. “Giải pháp phát triển hoạt động tín dụng tại Ngân đầu tư và Phát triển tỉnh Ninh Thuận” năm 2008 của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Hà đã nêu ra được các tiêu chí về phát triển hoạt động tín dụng ngân hàng và phân loại có hệ thống các tiêu chí để phán ánh rõ thực trạng phát triển hoạt động tín dụng. Các kết quả này có ý nghĩa với luận văn bởi đã giúp cho tác giả kế thừa và phát triển các tiêu chí đánh giá về phát triển hoạt động bảo lãnh, có cái nhìn tổng quan, rõ ràng và có khoa học trong các tiêu chí đánh giá phát triển hoạt động bảo lãnh. “Một số giải pháp phát triển thị trường bảo lãnh của Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín - Sacombank” năm 2009 của tác giả Lê Minh Sơn đã nêu được một số giải pháp để phát triển hoạt động bảo lãnh trên thị trường, đồng thời thông qua phiếu điều tra thực tế 100 mẫu, rút ra một số nhận xét của khách hàng.
sử dụng bảo lãnh ngân hàng, lý do khách hàng lựa chọn sử dụng từ đó hướng đến giải pháp để phát triển bảo lãnh tại Sacombank các giải pháp này đã giúp cho tác giả nắm bắt được các yếu tố quan trọng trong phát triển hoạt động bao lãnh, nhu cầu thực tế của khách hàng thực hiện bảo lãnh từ đó có những giải pháp cụ thê cho việc phát triển hoạt động bảo lãnh tại VCB Quy Nhơn. Dựa trên nền tảng cơ sở lý luận của những đề tài và trên cơ sở tham khảo từ nhiều nguồn tài liệu, sách tham khảo biên soạn gần nhất về nghiệp vụ bảo lãnh, đó là các giáo trình giảng dạy tại các trường đại học (Trường đại học kinh tế Đà Nẵng, trường đại học kinh tế Tp.Hồ Chí Minh), cùng một sách của một số học giả đã được biên soạn và được biên dịch từ tài liệu nước ngoài, tác giả đã chọn lọc cùng với quy trình thực hiện bảo lãnh đang được áp dụng của Vietcombank đề tiến hành nghiên cứu đề CHUONG 1 CƠ SO LY LUAN VE PHAT TRIEN BAO LANH 1. TONG QUAN VE BAO LANH NGAN HANG 1. Lịch sử hình thành và phát triển bảo lãnh ngân hàng.
Tại Việt Nam hoạt động bảo lãnh ngân hàng được thực hiện từ cuối những năm 80 của thế kỷ XX, trong giai đoạn chuyển tiếp sang nền kinh tế thị trường. Đến những năm 90, khi nền kinh tế bắt đầu mở cửa để hội nhập với nên kinh tế khu vực và thế giới, hoạt động ngân hàng trở nên đa dạng và bảo lãnh ngân hàng được phát triển như một tất yếu khách quan. Từ khi Việt Nam trở thành thành viên của WTO, cơ hội hợp tác và mở rộng thương mại quốc tế ngày càng nhiều; cùng với đó, nhu cầu sử dụng các dịch vụ tài chính ~ ngân hàng ngày cảng gia tăng, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động ngân hàng nói chung và bảo lãnh ngân hàng nói riêng phát triển. Khái niệm bão lãnh ngân hàng Hiện nay, thuật ngữ bảo lãnh ngân hàng chưa được định nghĩa một cách thống nhất trong luật pháp quốc tế cũng như các thông lệ được sử dụng phô biến trên thế giới.
Tuy nhiên, khi nghiên cứu về bảo lãnh ngân hàng, khái niệm về bảo lãnh ngân hàng có thể hiểu như sau: Bảo lãnh ngân hàng là một biện pháp bảo đảm mang tính dự phòng, theo đó, định chế tài chính phát hành cam kết sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính cho bên nhận bảo lãnh thay cho khách hàng khi khách hàng vi phạm nghĩa vụ đã cam kết. Trong thương mại quốc tế, bảo lãnh ngân hàng là hình thức tài trợ ngoại thương nhằm chống đỡ những tổn thất của người thụ hưởng bảo lãnh cho sự vi phạm nghĩa vụ của bên đối tác. Tại Việt Nam, theo Quyết định số: 26/2006/QĐ-NHNN ngày 26/6/2006 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thì khái niệm bảo lãnh được xác định: Báo lãnh ngân hàng là cam kết bằng văn bản của TCTD (Bên bảo lãnh) với bên có quyên (Bên nhận bảo lãnh) vẻ việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng (Bên được bảo lãnh) khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với Bên nhận bảo lãnh. Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho TCTD số tiền đã nhận trả thay.
Trong giới hạn mục tiêu của đề tài, tác giả sẽ đi sâu nghiên cứu các vấn đề liên quan đến bảo lãnh ngân hàng do NHTM phát hành. NHTM là một loại hình TCTD, được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận và góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế của Nhà nước. Mối quan hệ giữa các bên trong bảo lãnh ngân hàng Quan hệ giữa bên được bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh: Đây là mỗi quan hệ gốc, là cơ sở phát sinh yêu cầu bảo lãnh, được thể hiện dưới dạng: hợp đồng mua bán, hợp đồng thi công, hồ sơ mời thầu, đơn dự thâu,. Trong mối quan hệ này, bên được bảo lãnh có nghĩa vụ bắt buộc phải thực hiện cam kết đối với bên nhận bảo lãnh.
Quan hệ giữa bên được bảo lãnh và NHTM bảo lãnh: Dựa vào quan hệ gốc giữa bên được bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh, NHTM phát hành cam kết bảo lãnh theo yêu cầu của bên được bảo lãnh. Mối quan hệ này thê hiện thông qua hợp đồng cấp bảo lãnh. Đây là văn bản thỏa thuận giữa NHTM với bên được bảo lãnh và các bên liên quan (nếu có) về quyền và nghĩa vụ của các bên trong việc thực hiện bảo lãnh của NHTM. Bên được bảo lãnh có nghĩa vụ hoàn trả cho ngân hàng số tiền đã trả thay khi ngân hàng phải thanh toán cho.
bên nhận bảo lãnh theo cam kết bảo lãnh.