Chương 1: Khái quát chung về mô hình cơ quan quản lý cạnh tranh. - Chương 2: Thực trạng về tổ chức và hoạt động của hệ thống cơ quan quản lý cạnh tranh ở Việt Nam hiện nay. - Chương 3: Một số kiến nghị nhắm hoàn thiện hệ thống cơ quan quản lý cạnh tranh ở Việt Nam hiện nay. 4 CHƢƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ MÔ HÌNH CƠ QUAN QUẢN LÝ CẠNH TRANH.
Sự hình thành cơ quan quản lý cạnh tranh và một số mô hình cơ quan quản lý cạnh tranh điển hình trên thế giới. Sự hình thành cơ quan cạnh tranh. Khi trong xã hội bắt đầu xuất hiện sự dư thừa của cải, xuất hiện tư hữu và phân biệt giàu nghèo, chính là lúc sự cạnh tranh bắt đầu sơ khai xuất hiện. Lịch sử phát triển của xã hội loài người dần phát triển, đi cùng với nó là sản xuất hàng hóa và nền kinh tế thị trường.
Trong xã hội ngày nay, cạnh tranh là hiện tượng tất yếu, là động lực phát triển của thị trường. Trong lịch sử phát triển của thị trường, có thời kỳ, nguyên tắc tự do trong cạnh tranh được tôn trọng tuyệt đối, mọi cá nhân đều có thể cạnh tranh bằng mọi cách trên thị trường mà Nhà nước cho dù là chủ thể của quyền lực xã hội cũng không được quyền can thiệp vào các quan hệ thị trường. Điều này lý giải tại sao cạnh tranh đã có từ lâu nhưng pháp luật về cạnh tranh lại xuất hiện muộn hơn rất nhiều. Tuy nhiên để Nhà nước có thể quản lý được nền kinh tế và quản lý xã hội thì cần sử dụng pháp luật với tư cách là công cụ chủ yếu và hữu hiệu nhất để Nhà nước thực hiện quyền lực của mình.
Khi bàn đến sự cần thiết phải có pháp luật cạnh tranh đối với đời sống kinh tế, cũng cần phải làm rõ vai trò kinh tế của Nhà nước, tạo nên những lý do chính yếu về sự xuất hiện cũng như xác định giới hạn điều tiết của Nhà nước và pháp luật trong môi trường cạnh tranh. “Bất kỳ Nhà nước nào trong lịch sử loài người đều có chức năng kinh tế. Bởi lẽ, những biến chuyển cơ bản trong đời sống kinh tế và những thay đổi trong xã hội là nguyên nhân, là môi trường sản sinh ra Nhà nước. Chính vì thế, Nhà nước là một bộ máy đặc biệt để bảo đảm sự thống trị về kinh tế, để thực hiện quyền lực về chính trị và thực hiện sự tác động về tư tưởng đối với quần chúng”.
[8,46] Chức năng quản lý kinh tế (việc thực hiện quyền thống trị 5 kinh tế) thể hiện ở việc bảo đảm quyền lực kinh tế của giai cấp thống trị và duy trì trật tự kinh tế của xã hội. Tùy vào mô hình Nhà nước và tùy vào từng thời kỳ, vai trò kinh tế của Nhà nước có nội dung và được thực hiện khác nhau. Trong thời kỳ kinh tế thị trường sơ khai cổ điển của giai cấp tư bản, Nhà nước ban đầu chỉ có chức năng bảo vệ an ninh, xây dựng luật pháp để đảm bảo công bằng trong đời sống xã hội và xét xử tranh chấp; pháp luật chỉ giới hạn ở việc quản lý chung đời sống dân sự và trật tự xã hội. Chức năng đó đủ để pháp luật và Nhà nước tạo lập một môi trường cho cạnh tranh và quan hệ thị trường vận động linh hoạt, năng động; tuy nhiên xã hội ngày càng nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp làm cho mọi khuyết tật của thị trường được bộc lộ một cách mạnh mẽ mà pháp luật của Nhà nước không còn đủ để điều chỉnh.
Chính vì vậy mà sự thất bại của mô hình kinh tế chỉ huy ở các nước xã hội chủ nghĩa và những cuộc khủng hoảng kéo dài trên thị trường tự do của Nhà nước tư sản là những nguyên nhân, là động lực để thiết lập mô hình kinh tế thị trường hiện đại. Trong mô hình này, ở tầm vĩ mô về cơ bản do bàn tay vô hình của thị trường điều tiết. Vai trò kinh tế của Nhà nước là vừa hạn chế những khuyết tật của thị trường, vừa tạo môi trường cho ưu thế của thị trường tự do phát huy tác dụng tích cực lên nền kinh tế. Với vai trò đó, Nhà nước không còn là người tạo ra và quản lý nền kinh tế đơn thuần nữa mà còn có chức năng định hướng thị trường, thiết lập trật tự, khuôn khổ điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh trong nền kinh tế.
Để có thể quản lý được nền kinh tế thị trường tự do, các mối quan hệ cạnh tranh phức tạp giữa các chủ thể trong nền kinh tế, Nhà nước bằng công cụ pháp luật cạnh tranh phải can thiệp để duy trì một trật tự chung đảm bảo sự lành mạnh và phát triển của thị trường. Do vậy, pháp luật cạnh tranh ra đời cùng với sự thừa nhận và đảm bảo quyền tự do kinh doanh nhưng trong khuôn khổ pháp lý nhất định. “Theo nghĩa kinh điển, pháp luật cạnh tranh chỉ bao hàm các quy định ngăn cấm những hành vi cạnh tranh không lành mạnh theo cách hiểu của ngày 6 nay. Sở dĩ như vậy là vì, trong lịch sử đã có lúc người ta chưa biết đến hiện tượng độc quyền và sự tác hại của nó.
Đó là thời kỳ của chủ nghĩa tư bản tự do”. [15] Trong Bộ luật Dân sự của Pháp (Code civil – 1804), Điều 1382 và 1383 quy định về trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng.[3] Từ đó, những trách nhiệm phát sinh cho các thương nhân trong cạnh tranh được án lệ của nước Pháp coi là một loại hình mới của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong dân sự. Trên cơ sở đó, những hành vi cạnh tranh mà ở đó người thực hiện chúng phải chịu trách nhiệm về hậu quả gây ra cho người khác được gọi là hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Khái niệm đầu tiên về cạnh tranh không lành mạnh được gọi là concurrence déloyale (cạnh tranh không công bằng).
Hiện nay, những quy định mang tính nguyên tắc của Bộ luật Dân sự Pháp - 1804 cùng với một số văn bản pháp luật đơn hành tạo thành một chế định pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh của Cộng hoà Pháp. Ở Italia cũng tương tự, các Điều 1151 và Điều 1152 của Bộ Luật Dân sự năm 1865 quy định các nguyên tắc cơ bản liên quan đến trách nhiệm của người thực hiện hành vi không lành mạnh. Tuy nhiên, cho đến năm 1872 với sự ra đời của Bộ luật Dân sự mới thì những quy định về cạnh tranh không lành mạnh mới được quy định cụ thể, chi tiết và rõ ràng. Như vậy, nhìn về lịch sử, lúc sơ khai pháp luật cạnh tranh được xây dựng trên cơ sở của các nguyên tắc trong dân luật và được đảm bảo thực hiện bằng trách nhiệm dân sự.
Đồng thời, do sự nhận thức chưa đầy đủ và sự hạn chế trong khả năng dự liệu của luật pháp đối với hành vi cạnh tranh đang phát triển trên thị trường mà pháp luật về cạnh tranh trong thời kỳ đó chủ yếu tồn tại dưới dạng các án lệ của toà án. Những nguyên tắc của dân luật là nền tảng cơ sở của các án lệ và là cơ sở pháp luật quan trọng để duy trì trật tự cạnh tranh, vào thời điểm đó cơ quan thực thi pháp luật dân sự cũng là cơ quan đảm bảo về cạnh tranh. Cùng với sự phát triển của thị trường, sự biến đổi đa dạng và phức tạp trong các biểu hiện của cạnh tranh đã giảm thiểu tính hiệu quả của các nguyên 7 tắc trên. Các Nhà nước ngày càng tích cực nhận dạng và ngăn cấm những biểu hiện không lành mạnh bằng các quy định trong các văn bản pháp luật riêng biệt về cạnh tranh.
Hầu hết các nước có nền kinh tế thị trường đều đã ban hành văn bản pháp luật cạnh tranh. Cùng với đó là cơ quan đảm bảo tính thực thi thực tếcủa pháp luật cạnh tranh ra đời. Đến cuối thế kỷ XIX, pháp luật cạnh tranh đã được mở rộng và có những thay đổi rất cơ bản về nội dung cũng như phương pháp điều chỉnh. Cho đến nay, ngoài các quy định về cạnh tranh không lành mạnh trong pháp luật cạnh tranh của các nước, chế định về chống hạn chế cạnh tranh và kiểm soát độc quyền luôn là nội dung quan trọng không thể thiếu để Nhà nước bảo vệ và điều tiết cạnh tranh.
Theo đó, pháp luật được mở rộng cho thấy Nhà nước đã thực sự nhận thức và giành quyền quản lý thị trường, điều tiết cạnh tranh không chỉ bằng cách loại bỏ các biểu hiện tranh đua không lành mạnh, mà còn tạo ra các thiết chế pháp lý ngăn chặn và loại bỏ các rào cản nhân tạo cũng như tự nhiên để bảo vệ cho thị trường cạnh tranh. Từ đó cơ quan quản lý cạnh tranh cũng được lập ra với chức năng, nhiệm vụ chuyên biệt và độc lập nhằm bảo đảm thực thi pháp luật cạnh tranh. Mặt khác, từ tư duy Luật Cạnh tranh là lĩnh vực pháp luật dân sự mà ở đó chỉ khi có yêu cầu thì Nhà nước mới giải quyết, tuy nhiên sau này là pháp luật về kiểm soát độc quyền các nước trên thế giới càng phát triển đã cho phép Nhà nước chủ động ngăn chặn và kiểm soát mọi nguy cơ có thể làm hạn chế cạnh tranh bằng các thiết chế quyền lực của mình, kể cả bằng các biện pháp trừng phạt nặng như chế tài hình sự cho các hành vi vi phạm.Cũng nhờ đó sự độc lập và tính cưỡng chế của cơ quan quản lý cạnh tranh ngày càng được củng cố. Luật Cạnh tranh được đưa ra như một công cụ hữu hiệu để quản lý thị trường và xã hội.
Tuy nhiên để đảm bảo thực thi Luật Cạnh tranh thì cơ quan quản lý cạnh tranh chính là cơ quan nhân danh Nhà nước đảm bảo tính thực thi thực tế của Luật Cạnh tranh. Vì vậy mà sự hình thành và phát triển của 8 luật cạnh tranh gắn liền với sự hình thành và phát triển của cơ quan quản lý cạnh tranh (cơ quan đảm bảo thực thi Luật Cạnh tranh) với chức nâng đảm bảo sự cạnh tranh công bằng, minh bạch trên thị trường, đảm bảo quyền lợi của các chủ thể tham gia thị trường. Theo thống kê của Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển , trên thế giới (UNCTAD) tính tới năm 2007, đã có tới 113 nước và vùng lãnh thổ có luật điều tiết hoạt động cạnh tranh và kiểm soát độc quyền.Đi cùng với đó là cơ quan thực thi pháp luật cạnh tranh.