CHƯƠNG 1: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC LƯƠNG TÀI BẮC NINH.1 Điều kiện tự nhiên 1.1 Vị trí địa lý Lương Tài là một huyện thuộc tỉnh Bắc Ninh, nằm ở phía Đông Nam của tỉnh. Toàn huyện có diện tích tự nhiên 101,2 km2. Bao gồm 15 xã, thị trấn: TT Thứa, Quảng Phú, Bình Định, Lâm Thao, Phú Lương, Tân Lãng, Trung Chính, Phú Hoà, Trừng Xá, Minh Tân, Lai Hạ, Mỹ Hương, Lai Hạ, An Thịnh, Trung Kênh. Toạ độ địa lý nằm trong khoảng từ 20057’51” đến 21015’50” vĩ độ Bắc; từ 105054’14” đến 106018’28” kinh độ Đông.
Phía Bắc giáp với huyện Gia Bình - tỉnh Bắc Ninh. Phía Tây giáp với huyện Thuận Thành - Bắc Ninh. Phía Đông là sông Thái Bình giáp tỉnh Hải Dương. Phía Nam giáp tỉnh Hải Dương.
Vị trí khu vực nghiên cứu thể hiện trên hình 1.1: Vị trí địa huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh 3 1.2 Địa hình, địa mạo Nằm trong vùng đồng bằng sông Hồng, cho nên địa hình toàn huyện tương đối bằng phẳng, độ dốc nghiêng từ Tây Bắc xuống Đông Nam. Phía Nam và Đông Nam. Độ cao trung bình trong toàn huyện so với mặt nước biển là 2,0m. Nhìn chung địa bàn của huyện thuận lợi cho phát triển mạng lưới giao thông, thủy lợi, xây dựng cơ sở hạ tầng, mở rộng mạng lưới khu dân cư, xây dựng khu công nghiệp và kiến thiết đồng ruộng tạo ra những vùng chuyên canh lúa, màu và cây công nghiệp ngắn ngày.
Tuy nhiên một số vùng có địa hình trũng cũng gây khó khăn cho quá trình tiêu thoát nước.3 Đặc điểm khí hậu Huyện Lương Tài thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa đông bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 4, mùa hè từ tháng 5 đến tháng 10. Đặc trưng thời tiết là nóng ẩm và mưa nhiều.1 Chế độ nhiệt Nhiệt độ trung bình năm đạt khoảng 23 - 270C. Tháng có nhiệt độ trung bình lớn nhất thường rơi vào tháng VI và tháng VII, nhiệt độ trung bình hai tháng này từ 28 - 33 0C. Nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất là tháng I, nhiệt độ trung bình tháng này chỉ từ 16- 200C.
Nhiệt độ lớn nhất quan trắc được tại trạm Bắc Ninh là 39,7 0C vào ngày 20/7/2001, tại trạm Láng là 42,80C vào tháng 5/1926 và tại trạm Hải Dương là 38,9 0C ngày 3/7/2004. Biến động nhiệt độ trong tỉnh rất lớn, chênh lệch giữa nhiệt độ cao nhất và thấp nhất thường trên 350C thậm chí tới 400C. Nhiệt độ thấp nhất quan trắc được tại trạm Bắc Ninh chỉ là 2,80C vào ngày 30/12/1975, tại trạm Láng là 2,70C ngày 12/1/1955 và tại trạm Hải Dương là 3,20C ngày 18/12/1975.1: Nhiệt độ không khí trung bình tháng T háng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Trạm Bắc 16, 17,2 20 23,7 27, 28,8 29,1 28,3 27, 24,7 21,2 17,8 Ninh 0 3 3 Hà nội 19, 19,9 22,8 27,0 31, 32,6 32,9 31,9 30, 28,6 25,2 21,8 3 5 9 4 Bắc 16, 17,8 20,4 24,3 27, 29,0 29,1 28,5 27, 25,5 21,6 17,9 Giang 9 2 5 Hải 19, 19,7 22,5 26,4 30, 32,2 32,4 31,6 30, 28,4 25,3 21,6 Dương 4 6 5 Nguồn: Trung tâm Khí tượng Thủy văn Quốc Gia 1.2 Nắng Số giờ nắng trung bình khoảng từ 1400 đến 1700 giờ. Tháng nhiều nắng nhất là tháng 7 đến tháng 9, trung bình số giờ nắng mỗi tháng từ 160 đến 200 giờ.
Tháng ít nắng nhất là tháng 2 và tháng 3, trung bình chỉ từ 40 đến 50 giờ mỗi tháng.2: Tổng số giờ nắng trung bình tháng Đơn vị: giờ Trạm I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Năm Bắc 78, 44, 47, 192, 175, 205, 180, 191, 175, 154, 122, 1660, 91,0 Ninh 1 5 4 8 5 5 8 8 8 2 8 1 Nguồn: Trung tâm Khí tượng Thủy văn Quốc Gia 1.3 Lượng bốc hơi Khả năng bốc hơi trên khu vực phụ thuộc vào các yếu tố khí hậu: Nhiệt độ không khí, nắng, gió, độ ẩm, mặt đệm…Huyện Lương Tài có nhiệt độ khá cao kết hợp với tốc độ gió cũng tương đối lớn nên lượng bốc hơi ở đây tương đối cao, trung bình nhiều năm từ 950 đến 990 mm/năm. Lượng bốc hơi lớn nhất quan trắc được là 1.348mm năm 2003 tại trạm Bắc Binh, lượng bốc hơi nhỏ nhất vào tháng II đến tháng IV với lượng bốc hơi khoảng 50÷70mm/tháng.3: Tổng lượng bốc hơi trung bình tháng Đơn vị: mm Thán g 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Trạm Bắc 70, 57, 57, 64, 91, 94,1 97,1 80, 82, 87,1 85, 81, Ninh 8 0 9 2 9 8 5 8 3 5 Thán g 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Trạm Hà 70, 57, 56, 65, 95, 98,2 98,5 83, 86, 97,4 89, 83, nội 0 4 7 6 8 6 9 6 5 Bắc 72, 64, 62, 63, 86, 89,1 87,3 72, 84, 100, 93, 91, Giang 7 4 2 4 9 4 8 6 3 6 Hải 76, 58, 53, 57, 85, 100, 109, 78, 77, 97,5 99, 94, Dươn 8 2 6 0 7 8 7 0 9 4 0 g Nguồn: Trung tâm Khí tượng Thủy văn Quốc Gia 1.4 Gió bão Hướng gió thịnh hành trong huyện mùa hè là gió Nam và Đông Nam. Mùa Đông hướng gió thịnh hành là gió mùa Đông Bắc. Tốc độ gió trung bình vào khoảng 1,52,5 m/s.
Tốc độ gió lớn nhất quan trắc được tại trạm Bắc Ninh là 28 m/s, tại trạm Láng là 31m/s và đặc biệt là trạm Hải Dương tốc độ lớn nhất quan trắc được lên tới trên 40m/s vào ngày 23/8/1980.4: Tốc độ gió trung bình tháng Đơn vị: giờ Thán g 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Trạm Bắc Ninh 2,0 2,2 2,1 2,2 2,1 2,1 2,3 1,7 1,6 1,7 1,7 1,9 Hà nội 1,6 2,2 2,2 2,3 2,2 2,0 2,0 1,7 1,7 1,7 1,8 1,8 Hải Dương 3,1 2,6 2,4 2,4 2,6 2,5 2,6 2,1 2,0 2,3 2,3 2,4 Nguồn: Trung tâm Khí tượng Thủy văn Quốc Gia 1.5 Lượng mưa năm và phân bố mưa Mùa mưa của huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh thường bắt đầu vào tháng V và kết thúc vào tháng X. Mùa khô bắt đầu từ tháng XI và kết thúc vào tháng IV năm sau. Lượng mưa trong 6 tháng mùa mưa chiếm 83-86% tổng lượng mưa năm còn lại 6 tháng mùa khô lượng mưa chỉ từ 14-17% tổng lượng mưa năm. 6 Hai tháng mưa nhiều nhất đó là tháng VII và tháng VIII, tổng lượng mưa hai tháng này chiếm từ 35-38% tổng lượng mưa năm, lượng mưa tháng của các tháng này đều từ 200-300mm/tháng số ngày mưa lên tới 15 - 20 ngày, trong đó có tới 9,10 ngày mưa có mưa dông với tổng lương mưa đáng kể, thường gây úng.
Điển hình là tháng 8/1972 Thứa (Gia Lương) 785,3mm, Hải Dương 601,7mm, gây ra ngập úng trong vùng. Hai tháng ít mưa nhất đó là tháng XII và tháng I, tổng lượng mưa hai tháng này chỉ chiếm 1,5-2,5% tổng mưa năm, thậm chí có nhiều tháng không mưa gây ra tình trạng hạn hán nghiêm trọng. Lượng mưa năm trong huyện biến động không lớn, hệ số biến động mưa năm chỉ từ 0,18 – 0,20. Theo không gian lượng mưa trung bình nhiều năm cũng tương đối đồng nhất với lượng mưa hàng năm thấp chỉ dao động quanh mức 1400mm/năm.5: Phân phối lượng mưa trung bình năm Đơn vị: mm Tên Năm V VI VII VIII IX X XI XII I II III IV trạm (mm) Bắc 172, 232, 251, 259, 175, 122, 1444, 50,6 15,6 18,1 23,4 38,9 85 Ninh 1 2 5 1 7 3 5 Tiên 178, 203, 233, 264, 135, 1408, 193 46,6 11,4 12,2 17,2 21,5 91,7 Du 1 1 8 1 6 3 Quế 164, 213, 219, 268, 188, 114, 43,9 12,5 14,8 17,1 35,9 82,4 1375 Võ 6 5 1 9 2 1 Yên 153, 219, 284, 181, 119, Phon 251 48,2 13,7 14,8 19,5 36 81,4 1422 3 2 1 4 4 g Thuậ n 158, 225, 244, 264, 190, 124, 1452, 55,2 15,8 18,2 24,2 43,1 87,6 Thàn 5 9 3 7 6 5 6 h 163, 227, 238, 275, 194, 127, 1449, Thứa 54,7 16 15,1 19,1 40,2 78,5 1 7 1 1 1 8 5 Từ 157, 211, 241, 300, 195, 118, 39,4 16,2 12,5 17,4 25,3 90,7 1428 Sơn 8 5 6 8 9 9 Nguồn: Trung tâm Khí tượng Thủy văn Quốc Gia Bảng 1.6: Tần suất mưa năm Xp (mm) Tên trạm X Cv Cs 10% 25% 50% 75% 90% (mm) Thứa (Gia Lương) 1443,6 0,18 0,33 1783,2 1609,6 1429,5 1262,2 1122,1 Hải Dương 1519,8 0,19 0,65 1894,4 1689,1 1489,4 1317,3 1184,2 Cẩm Giàng 1327,9 0,20 1,07 1685,5 1472,7 1281,5 1132,5 1029,9 Nguồn: Trung tâm Khí tượng Thủy văn Quốc Gia 1.4 Đặc điểm mạng lưới sông ngòi Lương Tài có hệ thống sông ngòi khá dầy đặc, mật độ lưới sông cao, trung bình từ 1-1,2 km/km2 và gần như 4 mặt đều có sông, các sông chảy qua huyện Lương Tài bao gồm các sông sau: 8 Sông Thái Bình: Là con sông lớn ở miền Bắc nước ta, thượng du sông Thái Bình bao gồm lưu vực sông Cầu, sông Thương, sông Lục Nam.
Tổng diện tích lưu vực tính đến Phả lại là 12,080 km2. Xuống dưới Phả Lại chừng vài km sông hợp lưu với sông Đuống tạo thành dòng chính sông Thái Bình. Sông Thái Bình dài 385km, đoạn chảy qua Bắc Ninh dài 17km. Sông Thái Bình có đặc điểm lòng sông rộng, độ dốc nhỏ, bị bồi lấp nhiều nên đáy sông nông, việc thoát lũ chậm làm mực nước sông dâng cao và kéo dài nhiều ngày nên lũ sông thường xuyên đe doạ các vùng ven sông.
Việc tiêu thoát nước ra sông trong mùa lũ cũng gặp nhiều trở ngại, phần lớn phải bơm tiêu động lực. Sông Ngụ: Khởi nguồn từ Đại Bái kết thúc ở Kênh Vàng, sông dài 19,4 km. Đây là trục tiêu chính của các trạm bơm Kênh Vàng, Văn Thai, kết hợp lấy nước tưới cho hầu hết các trạm bơm cục bộ thuộc huyện Lương Tài. Sông Đồng Khởi: Đây là sông nhân tạo, làm nhiệm vụ tưới tiêu kết hợp, sông được đào từ những năm 1967-1968, dài 7,6 km nối sông Ngụ với sông Bùi.
Sông Đồng Khởi phân cách giữa hai vùng cao - thấp của huyện Lương Tài, làm trục tiêu tự chảy cho vùng bắc sông Ngụ tiêu về sông Bùi. Sông Đông Côi - Đại Quảng Bình: Là trục sông đào trong hệ thống thuỷ nông Bắc - Hưng - Hải được xây dựng vào năm 1957, sông dài 23,8 km, sông bắt đầu từ Đại Trạch huyện Thuận Thành và kết thúc tại Ngọc Quan huyện Lương Tài. Sông Đông Côi - Đại Quảng Bình là trục tiêu tự chảy của khu vực Đại Đồng Thành, An Bình (Thuận Thành), Đại Bái - Quảng Phú - Bình Định (Gia Bình và Lương Tài) đổ ra sông Tràng Kỷ.