Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong tiến trình toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế và tự do hóa thương mại, nền kinh tế - xã hội Việt Nam ghi nhận sự phát triển nhanh chóng nhưng đồng thời cũng làm phát sinh nhiều mâu thuẫn, tranh chấp dân sự với số lượng ngày càng gia tăng, tính chất ngày càng gay gắt, phức tạp và đa dạng về chủ thể. Khi tranh chấp xảy ra, các đương sự luôn có xu hướng tìm kiếm điểm tựa pháp lý từ luật sư nhằm bảo vệ tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Sự tham gia của luật sư trong giải quyết vụ án dân sự đóng vai trò quan trọng trong việc làm sáng tỏ sự thật khách quan, bản chất vụ án, hỗ trợ Tòa án giải quyết vụ việc triệt để, đúng pháp luật, đồng thời giám sát quá trình tố tụng nhằm bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Cư Thị Gương (chuyên ngành Luật, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2023, do ThS. Phan Thanh Dương hướng dẫn) tập trung giải quyết các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Làm sáng tỏ cơ sở lý luận: Phân tích khái niệm, đặc điểm, hình thức, ý nghĩa của sự tham gia của luật sư trong tố tụng dân sự và nghiên cứu kinh nghiệm lập pháp của một số quốc gia trên thế giới (Cộng hòa Pháp, Nhật Bản, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa).
- Phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành: Rà soát có hệ thống các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Luật Luật sư năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2012) và các văn bản liên quan về hai tư cách tham gia của luật sư (người đại diện theo ủy quyền và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự) xuyên suốt các giai đoạn tố tụng.
- Đánh giá thực tiễn và đề xuất giải pháp: Chỉ ra những ưu điểm, hạn chế, bất cập và nguyên nhân phát sinh trong quá trình áp dụng pháp luật; từ đó đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự cũng như giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Đối tượng nghiên cứu: Sự tham gia của luật sư trong giải quyết vụ án dân sự, bao gồm lý luận, hệ thống quy phạm pháp luật điều chỉnh tư cách, quyền, nghĩa vụ của luật sư qua các giai đoạn tố tụng, cùng thực tiễn thi hành và giải pháp hoàn thiện.
Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian và hệ thống pháp luật: Tập trung vào pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành, kết hợp so sánh với pháp luật của Pháp, Nhật Bản và Trung Quốc.
- Thời gian và nội dung: Nghiên cứu các quy định từ Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 đến Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Luật Luật sư năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2012), Bộ quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam năm 2019 và thực tiễn áp dụng tính đến thời điểm hoàn thành khóa luận (năm 2023).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và hệ thống văn bản pháp luật
Đề tài dựa trên nền tảng lý luận về nhà nước và pháp luật, quyền tiếp cận công lý, nguyên tắc tranh tụng và quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự. Hệ thống thuật ngữ và quy phạm được tác giả đối chiếu từ:
- Khái niệm và thuật ngữ pháp lý: Định nghĩa "luật sư", "sự tham gia", "vụ án dân sự" trích xuất từ Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên), Đại từ điển tiếng Việt (Nguyễn Như Ý chủ biên), Từ điển pháp luật Anh - Việt (Nguyễn Thế Kỹ), Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam (Trường Đại học Luật Hà Nội), Giáo trình Kỹ năng giải quyết vụ việc dân sự (Học viện Tư pháp).
- Văn bản pháp luật trong nước: Hiến pháp năm 1959, 1980, 1992, 2013; Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2004, 2011, 2015; Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2005, 2015; Luật Luật sư năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2012); Sắc lệnh số 46/SL ngày 10/10/1945; Pháp lệnh Tổ chức luật sư năm 1987; Pháp lệnh Luật sư năm 2001; Bộ quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam (ban hành kèm Quyết định số 201/QĐ-HĐLSTQ ngày 31/12/2019); Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao.
- Văn bản pháp luật quốc tế: Tuyên ngôn Nhân quyền Pháp năm 1789, Luật số 71-1130 ngày 31/12/1971, Luật số 90-1259 ngày 31/12/1990 của Pháp; BLTTDS Pháp (Điều 19, 314, 441); Hiến pháp Nhật Bản (khoản 1 Điều 76), Hiến pháp Minh Trị năm 1889, Luật về luật sư Nhật Bản (năm 1893, 1933, 1949), Luật TTDS Nhật Bản; Luật về luật sư CHND Trung Hoa, Luật TTDS CHND Trung Hoa năm 1991 (Điều 58, 61, 127).
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được triển khai dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, quan điểm của Đảng và Nhà nước, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm:
- Phương pháp phân tích pháp lý: Phân tích nội dung, cấu trúc các quy phạm pháp luật thực định về quyền, nghĩa vụ của luật sư.
- Phương pháp so sánh luật học: So sánh quy định pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ và đối chiếu với mô hình pháp luật của Cộng hòa Pháp, Nhật Bản, Trung Quốc.
- Phương pháp tổng hợp và khái quát hóa: Tổng hợp kết quả phân tích lý luận, đánh giá thực trạng để xây dựng các nhận định khoa học và nhóm giải pháp kiến nghị.
Nguồn dữ liệu
Nguồn dữ liệu của khóa luận bao gồm các văn bản quy phạm pháp luật, án lệ, các ấn phẩm nghiên cứu khoa học pháp lý, luận văn thạc sĩ luật học (Trần Phương Thảo, Phạm Thị Hường, Hoàng Mậu Thanh, Hoàng Thị Yên, Hoàng Minh Tuấn, Nguyễn Thùy Anh), bài viết chuyên san trên Tạp chí Luật học, Tạp chí Dân chủ & Pháp luật, và thông tin hướng dẫn trên Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân Tối cao.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về sự tham gia của luật sư trong giải quyết vụ án dân sự
Chương 1 hệ thống hóa các vấn đề mang tính nền tảng về thiết chế luật sư và sự tham gia tố tụng của luật sư:
-
Lịch sử hình thành và khái niệm:
- Nghề luật sư manh nha từ thời Hy Lạp cổ đại (khoảng 3500 - 3000 năm TCN) với người biện hộ (advocatus), phát triển qua thời Trung đại (hình thành danh xưng "Maître", chế độ thù lao và đoàn luật sư) đến thời cận - hiện đại.
- Tại Việt Nam, nghề luật sư hình thành đầu thế kỷ XX thời kỳ Pháp thuộc (Sắc lệnh ngày 30/1/1911 và Sắc lệnh ngày 25/5/1930 thành lập Đoàn luật sư tại Hà Nội, Sài Gòn, Đà Nẵng; luật sư đầu tiên là ông Phan Văn Trường). Sau Cách mạng Tháng Tám, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 46/SL ngày 10/10/1945 thiết lập tổ chức đoàn thể luật sư, mở đường cho Pháp lệnh năm 1987, Pháp lệnh năm 2001, và Luật Luật sư năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2012).
- Tác giả đưa ra định nghĩa: Sự tham gia của luật sư trong giải quyết vụ án dân sự là sự có mặt, hiện diện của luật sư trong một hoặc nhiều giai đoạn tố tụng theo yêu cầu của khách hàng, thông qua hoạt động nghề nghiệp nhằm bảo vệ công lý, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, hỗ trợ Tòa án giải quyết vụ án khách quan, nhanh chóng.
-
Đặc điểm sự tham gia của luật sư trong tố tụng dân sự:
- Phụ thuộc hoàn toàn vào ý chí và sự lựa chọn của đương sự (dựa trên nguyên tắc quyền tự định đoạt tại Điều 5 BLTTDS 2015, khác với tính chất bắt buộc/chỉ định trong một số vụ án hình sự).
- Phải tuân thủ chặt chẽ trình tự, thủ tục do luật định và Bộ quy tắc đạo đức, ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam năm 2019 (không đại diện cho các bên có xung đột lợi ích, không cung cấp chứng cứ giả, không xúi giục đương sự khai báo sai sự thật).
- Kết hợp giữa bảo vệ lợi ích hợp pháp của thân chủ và thực hiện chức năng xã hội (bảo vệ công lý, pháp chế).
-
Ý nghĩa của sự tham gia của luật sư:
- Đối với đương sự: Giúp nhận thức đầy đủ quyền lợi, loại bỏ định kiến cảm tính, cung cấp lập luận và chứng cứ xác thực.
- Đối với cơ quan tiến hành tố tụng: Cung cấp thông tin đa chiều, khắc phục tình trạng "vừa đá bóng vừa thổi còi" khi Thẩm phán vừa thu thập vừa đánh giá chứng cứ, nâng cao chất lượng xét xử.
- Đối với bản thân luật sư: Khẳng định uy tín nghề nghiệp, nâng cao trình độ chuyên môn và đem lại thu nhập hợp pháp.
-
Kinh nghiệm lập pháp quốc tế:
- Pháp: Tách bạch và hợp nhất các ngạch nghề (Đại tụng viên, Biện hộ, Tư vấn thành nghề Luật sư độc lập theo Luật 71-1130 và Luật 90-1259); BLTTDS Pháp (Điều 19, 314, 441) cho phép luật sư đại diện hoặc trợ giúp đương sự nộp đơn, tranh luận.
- Nhật Bản: Ghi nhận mô hình tam quyền phân lập; thiết chế luật sư (từ Luật năm 1893 đến Luật năm 1949) giữ vai trò then chốt cùng Thẩm phán và Kiểm sát viên; luật sư tham gia tố tụng hoặc đại diện trong thủ tục điều đình.
- Trung Quốc: Luật TTDS năm 1991 (Điều 58, 61, 127) quy định quyền của người đại diện tố tụng được điều tra, thu thập chứng cứ, đọc tài liệu và tham gia đối đáp tại phiên tòa.
Chương 2: Các quy định hiện hành về sự tham gia của luật sư trong giải quyết vụ án dân sự
Chương 2 phân tích chi tiết hai tư cách tham gia và các hoạt động của luật sư theo từng giai đoạn tố tụng quy định tại BLTTDS 2015:
- Quy định chung về tư cách tham gia của luật sư:
| Tiêu chí phân định |
Người đại diện theo ủy quyền của đương sự |
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự |
| Căn cứ pháp lý |
Điều 85, 86 BLTTDS 2015; Điều 138, 562 BLDS 2015 |
Điều 75, 76 BLTTDS 2015; Điều 22 Luật Luật sư |
| Bản chất tư cách |
Thay mặt, nhân danh đương sự thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng |
Giúp đỡ, hỗ trợ đương sự về mặt pháp lý |
| Phạm vi quyền hạn |
Độc lập quyết định các vấn đề trong phạm vi văn bản ủy quyền; ngang quyền với đương sự (Điều 70) |
Không được thay mặt định đoạt; chỉ tư vấn, hướng dẫn, trình bày quan điểm, tranh luận |
| Văn bản xác lập |
Hợp đồng ủy quyền (công chứng/chứng thực) hoặc Giấy ủy quyền |
Giấy yêu cầu luật sư, Hợp đồng dịch vụ pháp lý, Thông báo người bảo vệ |
| Quyền riêng biệt |
Thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu khởi kiện/phản tố; chấp nhận/bác bỏ yêu cầu của đối phương (Điều 71, 72) |
Trình bày bản luận cứ, hỏi và tranh luận tại phiên tòa; đương sự vẫn tự đưa ra quyết định cuối cùng |
- Sự tham gia của luật sư qua các giai đoạn tố tụng:
-
Giai đoạn khởi kiện và thụ lý:
- Luật sư tư vấn điều kiện khởi kiện (năng lực chủ thể, thẩm quyền Tòa án, thời hiệu khởi kiện, điều kiện hòa giải tiền tố tụng).
- Hỗ trợ soạn thảo đơn khởi kiện (theo Điều 189 BLTTDS 2015 và Mẫu số 23-DS Nghị quyết 01/2017/NQ-HĐTP), chuẩn bị tài liệu chứng minh.
- Hướng dẫn nộp đơn qua 3 phương thức: trực tiếp, dịch vụ bưu chính, hoặc trực tuyến qua Cổng thông tin điện tử Tòa án (khoản 1 Điều 190 - yêu cầu có chữ ký số và tài khoản giao dịch điện tử).
- Điểm nghẽn thực tiễn: Sự thiếu thống nhất giữa các Tòa án về việc chấp nhận đơn khởi kiện do người đại diện theo ủy quyền ký tên (một số Tòa án từ chối thụ lý do viện dẫn câu chữ tại Điều 189 BLTTDS 2015).
-
Giai đoạn chuẩn bị xét xử tại Tòa án cấp sơ thẩm:
- Thời hạn chuẩn bị xét xử: 04 tháng đối với án dân sự, hôn nhân và gia đình (gia hạn không quá 02 tháng); 02 tháng đối với án kinh doanh, thương mại, lao động (gia hạn không quá 01 tháng) theo Điều 203 BLTTDS 2015.
- Hoạt động thu thập, giao nộp chứng cứ: Thu thập từ 10 nguồn luật định (Điều 93); yêu cầu cơ quan, tổ chức cung cấp chứng cứ hoặc đề nghị Tòa án thu thập theo Điều 106; sao gửi tài liệu cho các bên đương sự khác theo khoản 5 Điều 96.
- Tham gia Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải: Đây là điểm mới quan trọng tại Điều 208, 209 BLTTDS 2015. Luật sư phân loại chứng cứ, đề xuất hướng hòa giải, hướng dẫn thân chủ về thời hạn 07 ngày thay đổi ý kiến hòa giải thành trước khi Thẩm phán ra quyết định công nhận sự thỏa thuận (Điều 212, 213).
-
Giai đoạn phiên tòa sơ thẩm:
- Xử lý việc triệu tập và hoãn phiên tòa (Điều 227): Luật sư cần đảm bảo sự có mặt để tránh việc Tòa án đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn hoặc đình chỉ yêu cầu phản tố/độc lập.
- Thủ tục bắt đầu phiên tòa (Điều 239 - 246): Đề xuất hoãn phiên tòa, thay đổi người tiến hành tố tụng, yêu cầu cách ly người làm chứng (Điều 242), bổ sung chứng cứ hợp pháp (khoản 4 Điều 96).
- Thủ tục tranh tụng: Trình bày ý kiến yêu cầu (Điều 248); thực hiện thủ tục xét hỏi theo thứ tự mới của BLTTDS 2015 (nguyên đơn/luật sư hỏi trước, tiếp đến bị đơn, người liên quan, sau đó mới đến Hội đồng xét xử và Kiểm sát viên theo Điều 249, 250); phát biểu bản luận cứ và đối đáp tranh luận dựa trên chứng cứ đã kiểm tra công khai tại phiên tòa.
-
Các giai đoạn tố tụng khác:
- Cấp phúc thẩm: Hỗ trợ làm đơn kháng cáo, cung cấp chứng cứ bổ sung, tham gia tranh luận để sửa hoặc hủy bản án sơ thẩm có vi phạm.
- Thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm: Soạn thảo đơn đề nghị người có thẩm quyền kháng nghị đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật khi phát hiện vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc tình tiết mới làm thay đổi cơ bản vụ án.
- Thủ tục rút gọn: Tư vấn và giám sát điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn, thực hiện quyền rút gọn về thời hạn chuẩn bị xét xử và tranh tụng.
Chương 3: Thực trạng sự tham gia của luật sư trong giải quyết vụ án dân sự và kiến nghị
Chương 3 tổng kết thực tiễn thi hành, nhận diện các rào cản và đề xuất hệ thống giải pháp:
-
Đánh giá thực trạng:
- Ưu điểm: Đội ngũ luật sư phát triển về số lượng và chất lượng; tham gia hiệu quả vào hoạt động thu thập chứng cứ, hòa giải thành và nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa; góp phần bảo vệ quyền lợi hợp pháp của đương sự và hạn chế án oan, sai.
- Hạn chế: Một số Tòa án gây khó khăn cho luật sư trong việc sao chụp, tiếp cận hồ sơ vụ án; quyền thu thập chứng cứ từ cơ quan, tổ chức theo Điều 106 còn gặp trở ngại do thiếu cơ chế cưỡng chế tức thì; sự không thống nhất giữa các Tòa án về việc người đại diện theo ủy quyền ký đơn khởi kiện; một bộ phận luật sư còn hạn chế về kỹ năng tranh tụng hoặc chưa tuân thủ đầy đủ quy tắc đạo đức nghề nghiệp.
- Nguyên nhân: Hệ thống quy phạm còn mâu thuẫn giữa BLDS 2015 và BLTTDS 2015; nhận thức về vai trò của luật sư ở một số cơ quan tiến hành tố tụng còn định kiến; công tác đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng tố tụng cho luật sư chưa bắt kịp đòi hỏi thực tiễn.
-
Các nhóm kiến nghị:
- Hoàn thiện quy định pháp luật: Ban hành nghị quyết hướng dẫn thống nhất cho phép người đại diện theo ủy quyền được ký và nộp đơn khởi kiện, đơn phản tố, đơn yêu cầu độc lập; bổ sung chế tài xử phạt hành chính rõ ràng, nghiêm minh đối với các cơ quan, tổ chức không cung cấp chứng cứ theo yêu cầu của luật sư; hoàn thiện các quy định về quyền của luật sư trong thủ tục rút gọn và giám đốc thẩm, tái thẩm.
- Nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật: Đổi mới công tác đào tạo tại Học viện Tư pháp và các khóa bồi dưỡng của Liên đoàn Luật sư Việt Nam; tăng cường đầu tư công nghệ số hóa hồ sơ tại Tòa án để tạo thuận lợi cho luật sư tiếp cận tài liệu; tăng cường giám sát đạo đức nghề nghiệp và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm tố tụng.
Kết quả và đóng góp
Kết quả nghiên cứu chính
- Hệ thống hóa toàn diện các quy định của BLTTDS 2015, BLDS 2015 và Luật Luật sư năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2012) điều chỉnh hoạt động của luật sư trong giải quyết vụ án dân sự.
- Phân tích rành mạch hai tư cách tố tụng của luật sư (người đại diện theo ủy quyền và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp), làm rõ sự khác biệt căn bản về quyền định đoạt tố tụng và phạm vi trách nhiệm.
- Chỉ ra các điểm mới tiến bộ của BLTTDS 2015 có ảnh hưởng trực tiếp đến luật sư: quyền nộp đơn khởi kiện điện tử (Điều 190); luật sư tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải (Điều 208, 209); sự thay đổi về thứ tự xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm trao quyền chủ động cho đương sự và luật sư (Điều 249).
Hệ thống giải pháp, kiến nghị
- Kiến nghị Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao ban hành văn bản giải thích áp dụng Điều 189 BLTTDS 2015 theo hướng công nhận giá trị pháp lý của đơn khởi kiện do người đại diện theo ủy quyền ký tên khi có văn bản ủy quyền hợp pháp.
- Đề xuất hoàn thiện cơ chế chế tài thực thi Điều 106 và Điều 495 BLTTDS 2015 nhằm đảm bảo hiệu lực của quyền yêu cầu cung cấp chứng cứ của luật sư đối với các cơ quan, tổ chức đang nắm giữ tài liệu.
- Đề xuất nhóm giải pháp về nâng cao đạo đức nghề nghiệp và kỹ năng tranh luận, thu thập chứng cứ của luật sư trong tố tụng dân sự.
Đóng góp so với các công trình trước
Các công trình trước đây (như nghiên cứu của Trần Phương Thảo năm 2004, Phạm Thị Hường năm 2013, Hoàng Mậu Thanh năm 2013, Hoàng Minh Tuấn năm 2016) chủ yếu tiếp cận ở phạm vi rộng là hoạt động của luật sư trong tố tụng dân sự nói chung. Khóa luận này đi sâu vào phạm vi cụ thể: sự tham gia của luật sư trong giải quyết vụ án dân sự (phân biệt với việc dân sự), đánh giá trực tiếp dựa trên khung khổ quy định của BLTTDS 2015 qua từng thủ tục (sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm/tái thẩm, thủ tục rút gọn) và Nghị quyết 01/2017/NQ-HĐTP.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Khóa luận tập trung chủ yếu vào loại việc tranh chấp dân sự (vụ án dân sự gồm dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động), chưa mở rộng phân tích chuyên sâu về sự tham gia của luật sư trong giải quyết "việc dân sự" (các việc yêu cầu công nhận hoặc không công nhận); số liệu thực trạng áp dụng pháp luật chủ yếu dựa trên tổng kết lý luận và phân tích văn bản, chưa có điều kiện thực hiện các khảo sát xã hội học pháp luật định lượng trên diện rộng tại nhiều địa phương.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu hoạt động của luật sư trong giải quyết các loại việc dân sự cụ thể; nghiên cứu tác động của chuyển đổi số và tố tụng dân sự điện tử đối với hoạt động hành nghề của luật sư; khảo sát thực chứng về sự phối hợp giữa Luật sư và Thẩm phán trong quá trình tổ chức phiên họp tiếp cận chứng cứ và hòa giải.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng sử dụng: Sinh viên ngành Luật, học viên đào tạo nghề luật sư tại Học viện Tư pháp, cán bộ pháp chế doanh nghiệp, luật sư tập sự và người nghiên cứu về pháp luật tố tụng dân sự.
- Nội dung giá trị nhất:
- Phần phân tích kỹ năng, quyền hạn của luật sư tại Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải (Chương 2).
- Bảng tổng hợp và phân tích sự khác biệt về quyền, nghĩa vụ giữa tư cách người đại diện theo ủy quyền và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp.
- Phân tích quy trình xét hỏi và tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm theo quy định mới của BLTTDS 2015.
Câu hỏi thường gặp
1. Luật sư tham gia giải quyết vụ án dân sự theo pháp luật Việt Nam với những tư cách nào?
Luật sư tham gia với một trong hai tư cách: (1) Người đại diện theo ủy quyền của đương sự (Điều 85, 86 BLTTDS 2015), có quyền thay mặt đương sự quyết định trong phạm vi ủy quyền; hoặc (2) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự (Điều 75, 76 BLTTDS 2015), đóng vai trò hỗ trợ pháp lý, tư vấn và tranh luận bảo vệ thân chủ mà không thay mặt định đoạt quyền tố tụng.
2. Vướng mắc pháp lý điển hình liên quan đến quyền của người đại diện theo ủy quyền trong giai đoạn khởi kiện là gì?
Thực tiễn áp dụng có sự không thống nhất giữa các Tòa án về việc chấp nhận đơn khởi kiện do người đại diện theo ủy quyền ký tên. Một số Tòa án từ chối thụ lý do giải thích hẹp Điều 189 BLTTDS 2015 (yêu cầu cá nhân khởi kiện phải tự ký/điểm chỉ), trong khi các quy định tại Điều 134, 138, 139 BLDS 2015 và Điều 85, 86 BLTTDS 2015 cho phép ủy quyền thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng.
3. BLTTDS 2015 có điểm mới nào về sự tham gia của luật sư tại phiên họp tiếp cận chứng cứ và hòa giải?
BLTTDS 2015 đã chính thức bổ sung "Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự" vào thành phần tham dự Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải (điểm d khoản 1 Điều 209), cho phép luật sư trực tiếp phát biểu quan điểm về chứng cứ và đề xuất phương án giải quyết vụ án.
4. Thứ tự tham gia xét hỏi của luật sư tại phiên tòa sơ thẩm thay đổi như thế nào trong BLTTDS 2015?
Theo Điều 249 BLTTDS 2015, quyền xét hỏi được ưu tiên cho các bên đương sự và luật sư trước (nguyên đơn/luật sư của nguyên đơn hỏi trước, tiếp đến bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan), sau đó Hội đồng xét xử và Kiểm sát viên mới tiến hành hỏi các vấn đề chưa rõ, thể hiện tính chất tranh tụng dân chủ hơn so với quy định trước đây.
5. Điều kiện để nộp đơn khởi kiện trực tuyến qua Cổng thông tin điện tử Tòa án theo BLTTDS 2015 gồm những gì?
Theo hướng dẫn tại điểm c khoản 1 Điều 190 BLTTDS 2015, người khởi kiện (hoặc luật sư đại diện) cần: (1) Máy tính có kết nối Internet; (2) Chữ ký số hợp lệ do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp (như Viettel-CA, FPT-CA, VNPT-CA...); (3) Tài khoản giao dịch trực tuyến đăng ký thành công trên Cổng thông tin điện tử Tòa án.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Cư Thị Gương đã giải quyết một cách toàn diện các vấn đề lý luận và thực tiễn về sự tham gia của luật sư trong giải quyết vụ án dân sự theo khung pháp luật Việt Nam hiện hành. Công trình phân tích sâu sắc hai tư cách tố tụng của luật sư, làm nổi bật các điểm mới tiến bộ của BLTTDS năm 2015 trong việc thúc đẩy tranh tụng và bảo đảm quyền tự định đoạt của đương sự. Những đề xuất về hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao kỹ năng hành nghề có giá trị tham khảo thiết thực cho công tác lập pháp, đào tạo luật và hoạt động tranh tụng thực tiễn.