Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Công tác xã hội cá nhân trong việc hỗ trợ trẻ mắc chứng tự kỉ chậm phát triển ngôn ngữ (Nghiên cứu trường hợp tại Trung tâm Hỗ trợ hòa nhập và Can thiệp sớm HOPE)" do sinh viên Mai Trịnh Linh Chi thực hiện dưới sự hướng dẫn của ThS. Nguyễn Thị Kim Dung, thuộc Bộ môn Công tác xã hội, Khoa Khoa học Xã hội và Nhân văn, Trường Đại học Thăng Long (Hà Nội, tháng 01 năm 2023).

Về bối cảnh thực tiễn, tác giả chỉ ra rằng hội chứng rối loạn phổ tự kỷ (Autism Spectrum Disorders – ASD) đang có xu hướng gia tăng nhanh chóng trên phạm vi toàn cầu cũng như tại Việt Nam. Theo thống kê sơ bộ của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội được trích dẫn trong văn bản, Việt Nam có khoảng 200.000 người mắc chứng tự kỷ; nếu tính theo công thức của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), con số này lên tới khoảng 500.000 người. Thống kê tại Bệnh viện Nhi Trung ương trong giai đoạn 2000–2007 cho thấy số lượng trẻ tự kỷ đến khám năm 2007 tăng gấp 50 lần so với năm 2000, với tốc độ gia tăng từ 122% đến 268% trong giai đoạn 2004–2007. Đơn vị châm cứu điều trị và chăm sóc đặc biệt cho trẻ tự kỷ, bại não thuộc Bệnh viện Châm cứu Trung ương (thành lập năm 2012) đã tiếp nhận 1.962 trẻ đến điều trị bằng phương pháp châm cứu và cấy chỉ. Số liệu từ Khoa Tâm thần thuộc Bệnh viện Nhi Trung ương cũng phản ánh tỷ lệ trẻ em trai mắc chứng tự kỷ cao gấp 4 đến 6 lần so với trẻ em gái, và khu vực thành thị có tỷ lệ ghi nhận cao hơn khu vực nông thôn. Một ước tính quốc tế khác nêu trong khóa luận ghi nhận Việt Nam có khoảng 165.325 người tự kỷ, và số liệu công bố tại hội thảo quốc tế tháng 4/2016 tại Hà Nội xác định có hơn 200.000 trẻ mắc hội chứng này.

Tác giả nhấn mạnh trẻ tự kỷ gặp nhiều trở ngại nghiêm trọng về giao tiếp ngôn ngữ và phi ngôn ngữ: thờ ơ, né tránh tiếp xúc mắt, lặp lại hành vi bất thường (lắc lư, bật tắt đèn, cắn mút tay, ăn đồ vật lạ), chậm nói, nhại lời, khó khăn trong việc hiểu câu hỏi đơn giản (như câu hỏi "Cháu ăn cơm chưa?" phải mất vài phút để phản hồi hoặc không trả lời được). Bên cạnh đó, gánh nặng tâm lý, kinh tế và sự kỳ thị xã hội tạo áp lực lớn lên gia đình trẻ. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về can thiệp giao tiếp dưới góc độ chuyên môn của công tác xã hội cá nhân tại Việt Nam còn tương đối khiêm tốn, phần lớn tập trung vào y học, tâm lý học hoặc giáo dục đặc biệt thuần túy.

Mục tiêu nghiên cứu được xác định gồm 3 nội dung:

  1. Tìm hiểu những khó khăn của trẻ chậm phát triển ngôn ngữ qua nghiên cứu thực tiễn tại Trung tâm Hỗ trợ hòa nhập và Can thiệp sớm HOPE (địa chỉ: 138 Lê Trọng Tấn, Hà Đông, Hà Nội).
  2. Làm rõ hoạt động của nhân viên công tác xã hội trong việc hỗ trợ trẻ chậm phát triển ngôn ngữ về mặt ngôn ngữ và tâm lý.
  3. Ứng dụng phương pháp công tác xã hội cá nhân để can thiệp hỗ trợ cho trẻ chậm phát triển ngôn ngữ, từ đó khẳng định vai trò của nhân viên công tác xã hội trong hoạt động hỗ trợ hòa nhập.

Nhiệm vụ nghiên cứu bao gồm:

  1. Nghiên cứu các vấn đề lý luận về công tác xã hội hỗ trợ giao tiếp cho trẻ chậm phát triển ngôn ngữ, rà soát các văn bản pháp luật, chính sách và công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan.
  2. Khảo sát và đánh giá thực trạng hoạt động công tác xã hội cá nhân hỗ trợ giao tiếp cho trẻ chậm phát triển ngôn ngữ từ thực tiễn Trung tâm Hỗ trợ hòa nhập và Can thiệp sớm HOPE.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động công tác xã hội cá nhân với trẻ chậm phát triển ngôn ngữ từ thực tiễn Trung tâm Hỗ trợ hòa nhập và Can thiệp sớm HOPE.
  • Phạm vi không gian: Trung tâm Hỗ trợ hòa nhập và Can thiệp sớm HOPE, số 138 Lê Trọng Tấn, quận Hà Đông, Hà Nội.
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn 1 từ ngày 13/09/2022 đến ngày 01/12/2022 (thực tập và triển khai can thiệp công tác xã hội cá nhân); Giai đoạn 2 từ ngày 11/01/2023 đến ngày 26/04/2023 (thu thập thông tin, tài liệu, hoàn thiện lý luận và báo cáo nghiên cứu).
  • Khách thể khảo sát: 04 trẻ chậm phát triển ngôn ngữ, 10 cán bộ làm việc với trẻ tại cơ sở, 01 người chăm sóc tại trung tâm, và 20 phụ huynh có con tự kỷ đang theo học tại đây.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận thiết lập hệ thống khái niệm công cụ và cơ sở lý luận dựa trên các định nghĩa quốc tế và văn bản quy phạm pháp luật tại Việt Nam:

  • Công tác xã hội: Tiếp cận theo định nghĩa của Hiệp hội Quốc gia Nhân viên Xã hội Mỹ (NASW, 1970), Hiệp hội Nhân viên Công tác Xã hội Quốc tế (IFSW, 2000 tại Montréal, Canada) và Đề án 32 của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam về phát triển nghề công tác xã hội.
  • Công tác xã hội cá nhân (Case Work / Working with individuals): Dựa trên hệ thống lý thuyết của Perlman, Zastrow (1996), Dubois & Miley (2005) và định nghĩa của tác giả Nguyễn Thị Oanh (1998) về can thiệp trực tiếp 1-1 nhằm giải quyết các vấn đề tâm lý - xã hội.
  • Khái niệm trẻ em: Đối chiếu giữa Công ước Liên Hợp Quốc về Quyền Trẻ em (người dưới 18 tuổi) và Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 của Việt Nam (công dân Việt Nam dưới 16 tuổi), chỉ rõ độ vênh 2 tuổi trong văn bản luật.
  • Rối loạn phổ tự kỷ và Chậm phát triển ngôn ngữ: Tiếp cận cơ chế sinh học thần kinh, di truyền học (với hơn 100 gen nguy cơ được nhắc đến như SHANK3, NLGN4, DLG2, RN3C2, DYRK1A, SCN2A; khẳng định cơ chế đột biến de novo và bác bỏ giả thuyết sai lệch về vắc-xin gây tự kỷ), các tổn thương não bộ, hội chứng asphia, khiếm thính và các yếu tố môi trường nuôi dưỡng.
  • Giáo dục hòa nhập: Dẫn chiếu Tuyên bố Salamanca năm 1994 của UNESCO về giáo dục đặc biệt và nguyên tắc không phân biệt đối xử.

Về khung lý thuyết chỉ đạo và mô hình ứng dụng:

  • Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử: Đặt ca can thiệp trong mối liên hệ khách quan với môi trường thể chế, bệnh viện, trường học và điều kiện kinh tế - xã hội.
  • Cách tiếp cận cơ cấu - chức năng và tương tác biểu trưng: Phân tích cấu trúc hệ thống và hành vi tương tác biểu tượng của trẻ trong môi trường sống.
  • Thuyết nhu cầu của Abraham Maslow: Mô hình kim tự tháp 5 tầng (nhu cầu thể lý, an toàn, giao lưu tình cảm/trực thuộc, được quý trọng, tự thể hiện bản thân) dùng để phân tích sự thiếu hụt và mức độ ưu tiên hỗ trợ cho trẻ.
  • Thuyết hệ thống sinh thái (Ecological Systems Theory): Khởi nguồn từ Ludwig von Bertalanffy, phát triển bởi Pincus & Minahan, Carel Germain & Alex Gitterman (1980). Mô hình xem xét thân chủ qua 3 cấp độ: vi mô (bản thân trẻ), trung mô (tương tác giữa gia đình, lớp học, nhân viên xã hội), và vĩ mô (chính sách, cộng đồng, trung tâm HOPE), vận dụng 6 nhiệm vụ cốt lõi của nhân viên xã hội để điều phối các hệ sinh thái nguồn lực.
Phương pháp nghiên cứu Mục đích và nội dung triển khai Công cụ / Mẫu khảo sát
Phân tích - tổng hợp tư liệu Hệ thống hóa y văn trong và ngoài nước về kỹ năng giao tiếp, trẻ tự kỷ, lý thuyết can thiệp cá nhân. Văn bản pháp luật, sách chuyên khảo, tài liệu nghiên cứu quốc tế và Việt Nam.
Quan sát Quan sát hành vi giao tiếp trực tiếp của trẻ tự kỷ trong các hoạt động học, chơi, ngoại khóa, ăn, ngủ, đón trả trẻ. Biên bản quan sát định tính có báo trước tại cơ sở thực tập.
Điều tra bằng bảng hỏi Đánh giá nhận thức, phương pháp dạy học, thuận lợi, khó khăn và các yếu tố tác động đến giao tiếp của trẻ. Phiếu khảo sát 21 câu hỏi dành cho giáo viên; Bảng đánh giá 5 nhóm kỹ năng giao tiếp (3 mức độ).
Phỏng vấn sâu Thu thập thông tin định tính bổ trợ về khó khăn giao tiếp, thói quen sinh hoạt và tương tác gia đình. Phỏng vấn bán cấu trúc với 20 phụ huynh có con tự kỷ học tại trung tâm.
Thống kê toán học Xử lý dữ liệu định lượng, tính tần suất, điểm trung bình cộng và xếp hạng thứ bậc 18 yếu tố ảnh hưởng. Phần mềm SPSS.
Công tác xã hội cá nhân Tiến hành trợ giúp thân chủ giải quyết khiếm khuyết ngôn ngữ và hành vi qua tiến trình thực hành chuẩn. Tiến trình 7 bước (Tiếp cận thân chủ, Xác định vấn đề, Thu thập dữ liệu, Chẩn đoán, Lên kế hoạch can thiệp, Can thiệp, Lượng giá).
Xin ý kiến chuyên gia Kiểm định tính chuẩn xác của các biện pháp can thiệp và phương pháp nghiên cứu áp dụng. Tham vấn các chuyên gia trong lĩnh vực tâm lý học, giáo dục đặc biệt và công tác xã hội.

Bảng đánh giá kỹ năng giao tiếp của trẻ được khóa luận cấu trúc thành 5 nhóm kỹ năng cụ thể:

  1. Kỹ năng tập trung chú ý: 5 tiêu chí (lắng nghe người khác nói chuyện, nhìn vào đối tượng giao tiếp, tập trung vào chỉ dẫn, tập trung vào một nhiệm vụ, lắng nghe hướng dẫn).
  2. Kỹ năng bắt chước: 5 tiêu chí (bắt chước hành động, bắt chước âm thanh, bắt chước lời nói, bắt chước cử chỉ, bắt chước điệu bộ biểu lộ cảm xúc).
  3. Kỹ năng luân phiên: 5 tiêu chí (đáp ứng yêu cầu, chờ đến lượt khi hoạt động, lần lượt thực hiện hành động/hội thoại, lần lượt sử dụng đồ vật, khởi đầu hội thoại và chờ đáp lại).
  4. Kỹ năng hiểu ngôn ngữ: 5 tiêu chí (hiểu chỉ dẫn bằng lời kết hợp cử chỉ, hiểu chỉ dẫn thuần lời nói, hiểu tranh/đồ vật và chỉ đúng khi được gọi tên, hiểu cử chỉ cảm xúc, hiểu tình huống chơi giả vờ đơn giản).
  5. Kỹ năng sử dụng ngôn ngữ: 5 tiêu chí (đáp ứng bằng nhìn mặt và quay theo tiếng động; dùng cử chỉ/lời nói/hành động để chào, tạm biệt, cảm ơn, xin lỗi; yêu cầu hoặc từ chối; đưa thông tin, trả lời câu hỏi; thu hút sự chú ý, duy trì giao tiếp).

Nội dung chính theo từng chương

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ LÝ THUYẾT ÁP DỤNG

Chương 1 tập trung xây dựng nền tảng lý luận chuyên ngành công tác xã hội và tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến kỹ năng giao tiếp của trẻ rối loạn phổ tự kỷ và trẻ chậm phát triển ngôn ngữ.

Về tổng quan y văn thế giới, tác giả trích dẫn quan điểm của nhà ngôn ngữ học Ferdinand de Saussure (1916) trong Giáo trình ngôn ngữ học đại cương về hoạt động lời nói gồm năng lực ngôn ngữ và hệ thống ngôn ngữ, khẳng định ngôn ngữ là phương tiện tổ chức tư duy và giao tiếp xã hội độc hữu của con người. Các nghiên cứu quốc tế của Beitchman, Clegg, Patel, Justin (1986); St. Louis, Ruscello và Lundeen (1992); Silva, McGee và Williams (1984) được phân tích để chỉ ra các rào cản trong việc thiếu hệ thống phân loại phổ quát đối với các rối loạn phát triển âm vị và lời nói. Nghiên cứu của Ishikawa, Kajii, Sakuma & Saitoh (1982) trên 155 trẻ chậm phát triển ngôn ngữ tại Nhật Bản cho thấy hiện tượng này liên quan mật thiết đến các yếu tố thần kinh, thính giác và môi trường xúc cảm - xã hội. Nghiên cứu tại Mỹ, Canada, New Zealand và Anh ghi nhận tỷ lệ trẻ chậm phát triển ngôn ngữ giảm dần theo độ tuổi: 11% ở trẻ 5 tuổi, 9,7% ở trẻ 6 tuổi, 6,5% ở trẻ 7 tuổi và chỉ còn 2–3% ở trẻ 8 tuổi, với tỷ lệ mắc ở thành thị cao hơn nông thôn.

Tại Việt Nam, các nghiên cứu bắt đầu phát triển từ thập niên 80 của thế kỷ XX và nở rộ từ năm 2000. Tác giả tổng thuật các nghiên cứu tiêu biểu:

  • Về phát hiện và giáo dục hòa nhập: Nguyễn Văn Thành (2004) với sách "Trẻ em tự kỷ - Phương thức giáo dục"; Vũ Thị Bích Hạnh (2007) với "Trẻ tự kỷ - Phát hiện sớm và can thiệp sớm"; Võ Nguyễn Tinh Vân với các ấn phẩm trị liệu; hoạt động của Câu lạc bộ Gia đình trẻ tự kỷ Hà Nội (thành lập 2002).
  • Về kỹ năng giao tiếp: Hoàng Anh, Đỗ Thị Châu, Nguyễn Thạc phân loại 3 nhóm kỹ năng giao tiếp (định hướng, định vị, điều khiển - điều chỉnh); Đỗ Thị Thảo (2004) nghiên cứu kế hoạch can thiệp sớm tại Hà Nội; Nguyễn Nữ Tâm An (2007) ứng dụng phương pháp TEACCH; Đào Thu Thủy (2008) xây dựng 20 bài tập phát triển giao tiếp tổng thể cho trẻ 24–36 tháng; Nguyễn Thị Mẫn (2010) khảo sát giao tiếp cha mẹ - con tự kỷ; Nguyễn Thị Hương Giang (2012) sàng lọc phát hiện sớm bằng bảng kiểm M-CHAT 23 (chỉ ra 100% trẻ tự kỷ chậm/không phát triển ngôn ngữ so với tuổi, 98,2% thiếu kỹ năng chơi đa dạng, 93,6% dùng ngôn ngữ rập khuôn); Trần Thị Mai khảo sát đặc điểm giao tiếp của học sinh tiểu học tự kỷ.
  • Về công tác xã hội với trẻ tự kỷ: Lê Hà Thu Nguyệt (2012) nghiên cứu hỗ trợ gia đình tại Trung tâm 16A Ngô Tất Tố; Tô Thị Hương ứng dụng công tác xã hội nhóm tại Trường Ánh Sao Mai; Khổng Thị Hà (2014) đánh giá mô hình can thiệp tại Trung tâm Nắng Mai. Tác giả chỉ ra khoảng trống: hầu hết công trình nghiên cứu thuộc ngành giáo dục đặc biệt hoặc tâm lý, rất ít nghiên cứu đi sâu vào can thiệp cá nhân dưới góc độ chuyên môn của nhân viên công tác xã hội.

CHƯƠNG 2. KHÁI QUÁT ĐẶC ĐIỂM, TÌNH HÌNH CHUNG CỦA ĐƠN VỊ THỰC TẬP

Chương này giới thiệu toàn diện về cơ sở nghiên cứu thực tế là Trung tâm Hỗ trợ hòa nhập và Can thiệp sớm HOPE:

  • Lịch sử và mục tiêu: Thành lập vào tháng 4 năm 2022, trung tâm hoạt động theo mô hình xã hội hướng tới mục tiêu phát hiện sớm, can thiệp và hỗ trợ giáo dục vận động, ngôn ngữ, nhận thức cho trẻ mầm non và tiểu học có nhu cầu đặc biệt, đồng thời hướng dẫn phụ huynh phương pháp đồng hành cùng trẻ.
  • Mô hình tổ chức can thiệp:
    1. Hình thức 1: Can thiệp cá nhân 1 giờ/ngày, áp dụng cho nhóm trẻ chậm nói, phổ tự kỷ mức độ nhẹ hoặc rối loạn cảm xúc, hành vi. Tần suất linh hoạt 1–2 giờ hoặc 3–4 giờ/tuần.
    2. Hình thức 2: Can thiệp cá nhân kết hợp can thiệp nhóm tích cực cả tuần (áp dụng phương pháp triển khai từ năm 2019 theo mô hình kinh nghiệm của đội ngũ sáng lập). Trẻ tham gia 3 đến 3,5 giờ/ngày vào tất cả các ngày trong tuần, gồm tối đa 2 giờ can thiệp cá nhân và 1–1,5 giờ học nhóm tại phòng trị liệu đa năng hoặc sân chơi ngoài trời.
  • Cơ cấu nhân sự và cơ sở vật chất:
    • Ban lãnh đạo: 01 Giám đốc, 02 Phó Giám đốc.
    • Đội ngũ chuyên môn: 09 nhân viên, gồm 03 cử nhân Giáo dục đặc biệt, 04 cử nhân Công tác xã hội, 01 cử nhân Xã hội học và 01 cử nhân Tâm lý học.
    • Cơ sở vật chất: 04 phòng học trang bị máy điều hòa, quạt, tủ kệ và giáo cụ; 04 phòng vệ sinh; 01 phòng bếp; 01 phòng ngủ và 01 phòng khách.
  • Đặc điểm lâm sàng của trẻ tại HOPE: Đa số trẻ có năng lực trí tuệ ở mức bình thường hoặc trên trung bình, một số có khả năng ghi nhớ máy móc hoặc trí nhớ hình ảnh (chụp hình) cao khiến gia đình nhầm tưởng trẻ thông minh sớm. Hầu hết thiếu hụt kỹ năng tương tác đồng đẳng, thu mình chơi một mình. Tại thời điểm khảo sát có 01 trường hợp trẻ mắc hội chứng Down.
  • Hệ thống 4 nhóm hoạt động hỗ trợ giao tiếp đang thực hiện tại cơ sở:
Nhóm hoạt động Nội dung và kỹ thuật can thiệp cụ thể
Tăng cường kỹ năng chú ý Bố trí phòng học không tiếng ồn, không gian gọn gàng, giảm thiểu đồ chơi gây xao nhãng; rèn luyện tư thế ngồi đối mặt, giao tiếp ngang tầm mắt; gọi tên trẻ trước mỗi hoạt động; thu hút qua kích thích thị giác; chỉ chuyển hoạt động khi trẻ đã có phản hồi nhìn/nghe.
Tăng cường kỹ năng chơi và bắt chước Can thiệp theo các mức độ hỗ trợ giảm dần: cầm tay chỉ việc hoàn toàn -> trợ giúp một phần -> làm mẫu bằng cử chỉ -> gợi ý bằng lời. Dạy bắt chước sắp xếp đồ vật; bắt chước nét mặt, cơ môi miệng (tặc lưỡi, liếm môi, chu môi, bạnh môi); bắt chước âm thanh tự nhiên (khà, ú òa, măm, hắt xì, bập bập, ba ba, ò ó o); bắt chước múa hát theo nhịp; bắt chước chơi giả vờ (khám bệnh, cắt hoa quả, xúc thìa, cho búp bê uống nước).
Tăng cường hiểu lời nói Luôn gọi tên trước khi ra lệnh; nói câu khẳng định ngắn gọn, dứt khoát; tránh phát âm rời rạc kiểu ngắt quãng; dùng chỉ dẫn từng bước một kết hợp tranh ảnh, đồ vật mô phỏng; sử dụng từ nối định hướng thời gian (tiếp theo, sau đó) và từ báo hiệu hoàn thành (kết thúc, xong rồi).
Tăng cường luyện phát âm Tập vận động cơ quan phát âm: kéo căng cơ môi bằng cách bạnh miệng; liếm môi (bôi mật ong quanh môi); tập mút kẹo; tập thổi bong bóng xà phòng, thổi còi, thổi tắt nến; tặc lưỡi, rung môi, phun mưa; tập nhai cắn thức ăn cứng; tập các nguyên âm cơ bản trước rồi phát triển sang hệ thống phụ âm ghép vần theo nhóm từ quen thuộc (bà bà, gà, cá, na).

CHƯƠNG 3. ÁP DỤNG TIẾN TRÌNH CTXH CÁ NHÂN TRONG VIỆC HỖ TRỢ NGÔN NGỮ CHO TRẺ MẮC CHỨNG TỰ KỶ

Chương 3 trình bày chi tiết việc áp dụng tiến trình công tác xã hội cá nhân gồm 7 bước trên một trường hợp can thiệp điển hình tại cơ sở:

  • Thông tin thân chủ: Thân chủ tên B.V (tên gọi ở nhà: Bon), sinh ngày 15/11/2019, tròn 3 tuổi tại thời điểm bắt đầu can thiệp. Cấu trúc gia đình gồm bố mẹ, thân chủ và một em trai hơn 1 tuổi. Tình trạng sức khỏe thể chất và tâm thần ổn định nhưng mắc chứng nói ngọng nặng, hơn 3 tuổi chỉ nói được câu ngắn 2–3 từ, không ghi nhớ cấu trúc chủ - vị ngữ, không sử dụng đại từ nhân xưng, không tự thực hiện các vận động phục vụ nhu cầu cá nhân (đi vệ sinh, lấy đồ chơi). Biểu cảm cơ mặt thường nhăn nhó khi cố gắng phát âm; không hứng thú với sách truyện và không bao giờ đặt câu hỏi tương tác với người lớn. Điểm tích cực là thân chủ thích em trai và sẵn sàng tham gia chơi cùng nhóm bạn nhỏ tuổi hơn.
  • Triển khai tiến trình can thiệp 7 bước:
    1. Bước 1 - Tiếp nhận thân chủ: Được cô Hằng (giáo viên can thiệp cá nhân của Bon tại trung tâm, đồng thời là cán bộ hướng dẫn thực tập) giới thiệu ca. Sinh viên tham gia dự giờ các lớp học nhóm và buổi can thiệp cá nhân để làm quen từ từ, tạo môi trường an toàn, tránh gây kích động hoặc sợ hãi cho trẻ.
    2. Bước 2 - Thu thập thông tin: Phỏng vấn sâu cô Hằng về biểu hiện nhận thức, mức độ tiếp thu và hành vi tương tác trên lớp; thực hiện trao đổi trực tiếp với mẹ và bà nội của Bon tại khung giờ đón trẻ cuối ngày để tìm hiểu lịch sinh hoạt tại gia đình, thói quen ăn uống, tương tác tâm lý giữa các thành viên.
    3. Bước 3 - Đánh giá và xác định vấn đề: Thân chủ gặp rào cản chính về khả năng duy trì chú ý, thiếu giao tiếp mắt, cơ môi miệng kém linh hoạt và vốn từ hạn chế (không nói được câu trên 5 từ). Tác giả thiết lập công cụ Cây vấn đề: nguyên nhân cốt lõi xuất phát từ việc bố mẹ bận rộn công việc và sinh thêm em bé ngay sau khi sinh Bon, khiến sự quan tâm bị chia cắt; gia đình vừa có yếu tố bỏ bê ngôn ngữ (ít trò chuyện trực tiếp), vừa chiều chuộng quá mức (đoán trước nhu cầu khiến trẻ lười vận động phát âm). Rào cản phát âm ngọng khiến người lớn không hiểu được trẻ, hình thành vòng lặp tự ti, cáu gắt và thu mình.
    4. Bước 4 - Chẩn đoán tâm lý - xã hội: Sử dụng Sơ đồ phả hệ (Genogram) để phân tích các mối quan hệ huyết thống và cấu trúc gia đình 3 thế hệ (ông bà, bố mẹ, hai con); Sơ đồ mạng lưới sinh thái (Eco-map) để xác định sự tương tác giữa thân chủ với trung tâm HOPE, lớp mầm non, gia đình và cộng đồng; lập bảng phân tích điểm mạnh (thể chất tốt, thích chơi với em, có hứng thú với trò chơi vận động) và điểm hạn chế (nói ngọng, thiếu tập trung, cơ mặt căng cứng, thiếu kỹ năng luân phiên).
    5. Bước 5 - Lên kế hoạch can thiệp: Xác định mục tiêu trị liệu gồm: cải thiện vận động cơ quan phát âm (môi, lưỡi, hơi thở); gia tăng thời lượng giao tiếp mắt lên trên 5 giây; mở rộng câu từ 2–3 từ lên 4–5 từ có chủ vị; thiết lập thói quen luân phiên khi chơi và hướng dẫn gia đình phương pháp tương tác phản hồi tại nhà.
    6. Bước 6 - Can thiệp: Phối hợp chặt chẽ với giáo viên can thiệp trực tiếp thực hiện các bài tập cơ môi miệng (thổi còi, bôi mật ong liếm môi, tặc lưỡi), sử dụng tranh ảnh trực quan để dạy ghép từ, áp dụng trò chơi ném bóng luân phiên để rèn quy tắc chờ đợi; tư vấn cho mẹ và bà nội ngừng việc đoán trước nhu cầu, kiên nhẫn chờ trẻ biểu đạt bằng lời hoặc cử chỉ chỉ tay.
    7. Bước 7 - Lượng giá: Đánh giá sự chuyển biến của thân chủ sau chuỗi can thiệp, xem xét mức độ hoàn thành mục tiêu ngôn ngữ, sự giảm dần biểu cảm căng thẳng trên khuôn mặt và khả năng tương tác với người chăm sóc; từ đó rút ra bài học kinh nghiệm về việc duy trì tính kiên trì và tầm quan trọng của sự phối hợp đa ngành giữa nhân viên xã hội, giáo viên giáo dục đặc biệt và gia đình.

Kết quả và đóng góp

Về kết quả thực tiễn, nghiên cứu đã khảo sát và phản ánh bức tranh thực tế về chăm sóc trẻ chậm phát triển ngôn ngữ tại Trung tâm HOPE. Các số liệu thu thập cho thấy mô hình can thiệp kết hợp (cá nhân 1–2 giờ kết hợp học nhóm trị liệu) mang lại hiệu quả cải thiện rõ nét về hành vi thích ứng xã hội. Trường hợp can thiệp sâu đối với thân chủ B.V (3 tuổi) ghi nhận sự chuyển biến cụ thể:

  • Trẻ giảm bớt biểu cảm căng thẳng, nhăn nhó khi nói; cải thiện sự linh hoạt của cơ môi miệng thông qua các bài tập vận động cơ chức năng.
  • Tăng khả năng tập trung chú ý và phản xạ giao tiếp mắt khi được người lớn gọi tên.
  • Bước đầu mở rộng cấu trúc phát ngôn từ các từ đơn rời rạc sang câu kết hợp 3–4 từ có ý nghĩa biểu đạt nhu cầu rõ ràng hơn; giảm thiểu tình trạng la hét hoặc ăn vạ do người lớn không hiểu ý.
  • Gia đình (mẹ và bà nội) thay đổi nhận thức, giảm bớt việc làm hộ hay đoán trước nhu cầu, dành thời gian tương tác lời nói tích cực với trẻ tại nhà.

Khóa luận đề xuất các nhóm giải pháp và kiến nghị chính sách cụ thể:

  • Về mặt chính sách xã hội: Kiến nghị Nhà nước và các bộ, ngành liên quan cần sớm đưa chứng chậm phát triển ngôn ngữ vào danh mục các dạng khuyết tật chính thức, làm căn cứ pháp lý để cấp giấy xác nhận mức độ khuyết tật và ban hành 4 nhóm chính sách đặc thù hỗ trợ trẻ cùng gia đình: bảo trợ xã hội, hỗ trợ giáo dục hòa nhập, chăm sóc y tế - phục hồi chức năng, và đáp ứng nhu cầu vui chơi giải trí.
  • Về phía cơ sở can thiệp: Hoàn thiện trang thiết bị chuyên dụng, tăng cường thêm số lượng phòng can thiệp cá nhân để đáp ứng nhu cầu của học sinh; tổ chức tập huấn chuyên môn định kỳ cho đội ngũ giáo viên và nhân viên xã hội; xây dựng sổ theo dõi học tập chi tiết hàng ngày cho từng trẻ.
  • Về phía gia đình và cộng đồng: Đẩy mạnh truyền thông nhằm xóa bỏ tâm lý e ngại, che giấu vấn đề của con; phụ huynh cần chủ động tìm kiếm sự trợ giúp chuyên môn sớm, không phó mặc hoàn toàn cho cơ sở can thiệp mà phải duy trì các bài tập tại môi trường sinh hoạt gia đình.

Về mặt đóng góp khoa học và thực tiễn, đề tài khẳng định vai trò của nhân viên công tác xã hội không chỉ đơn thuần là người trị liệu trực tiếp mà còn đóng vai trò kết nối nguồn lực, tham vấn tâm lý cho gia đình và hỗ trợ hòa nhập. Nghiên cứu cung cấp một trường hợp thực hành cụ thể minh chứng cho tính khả thi của việc ứng dụng tiến trình 7 bước của công tác xã hội cá nhân kết hợp các lý thuyết hệ thống sinh thái và tháp nhu cầu Maslow trong bối cảnh các trung tâm ngoài công lập tại Việt Nam.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận chỉ ra một số hạn chế gắn liền với điều kiện nghiên cứu thực tế:

  • Phạm vi mẫu: Nghiên cứu thực nghiệm can thiệp chuyên sâu được thực hiện trên một trường hợp đơn lẻ (thân chủ B.V, 3 tuổi); tổng số trẻ khảo sát thực trạng tại trung tâm chỉ có 04 trẻ chậm phát triển ngôn ngữ, 10 cán bộ và 20 phụ huynh. Quy mô mẫu nhỏ chưa thể đại diện cho toàn bộ quần thể trẻ rối loạn phổ tự kỷ chậm phát triển ngôn ngữ trên địa bàn Hà Nội hay cả nước.
  • Thời gian can thiệp: Đợt thực tập thực tế diễn ra trong thời gian ngắn (từ tháng 09/2022 đến tháng 12/2022), trong khi tiến trình phục hồi chức năng ngôn ngữ cho trẻ tự kỷ đòi hỏi quá trình theo dõi lâu dài và liên tục nhiều năm.
  • Cơ sở vật chất: Trung tâm HOPE quy mô còn hạn chế (4 phòng học), chưa đáp ứng được số lượng trẻ có nhu cầu can thiệp lớn hơn; một số phụ huynh gặp khó khăn về điều kiện kinh tế hoặc thời gian đưa đón nên việc tham gia can thiệp bị gián đoạn.

Hướng mở rộng nghiên cứu tiếp theo được văn bản đề cập là: mở rộng việc nghiên cứu và ứng dụng phương pháp công tác xã hội nhóm kết hợp công tác xã hội cá nhân; kéo dài thời gian theo dõi lượng giá sau can thiệp khi trẻ chuyển tiếp vào môi trường mầm non và tiểu học hòa nhập; mở rộng địa bàn nghiên cứu sang các cơ sở bảo trợ công lập và các trường học phổ thông.

Giá trị tham khảo

Báo cáo khóa luận có giá trị tham khảo chuyên môn cho các đối tượng sau:

  • Sinh viên và học viên ngành Công tác xã hội, Tâm lý học lâm sàng, Giáo dục đặc biệt, Giáo dục mầm non: Tài liệu hữu ích cho việc tìm hiểu quy trình quản lý ca, phương pháp viết nhật ký thực tập, kỹ thuật xây dựng cây vấn đề (Problem Tree), sơ đồ phả hệ (Genogram) và sơ đồ sinh thái (Eco-map) trong hỗ trợ người yếu thế.
  • Nhân viên xã hội, giáo viên dạy trẻ chuyên biệt và trị liệu viên ngôn ngữ: Cung cấp một khung tham khảo trực tiếp về hệ thống bài tập thực hành phát âm cơ quan vận động môi miệng (thổi còi, liếm môi, tặc lưỡi, phát âm nguyên âm - phụ âm ghép) và các nguyên tắc giao tiếp trực quan ngắn gọn có thể chuyển giao cho gia đình.
  • Các phần đáng tham khảo nhất trong văn bản: Bảng đánh giá 5 nhóm kỹ năng giao tiếp (gồm 25 tiêu chí lượng giá cụ thể); Hướng dẫn chi tiết 4 nhóm hoạt động hỗ trợ giao tiếp tại cơ sở ở Chương 2; và Hồ sơ tiến trình can thiệp thực tế trên thân chủ B.V ở Chương 3.

Câu hỏi thường gặp

Khóa luận được thực hiện tại cơ sở thực nghiệm nào và trong khung thời gian nào?

Nghiên cứu được triển khai tại Trung tâm Hỗ trợ hòa nhập và Can thiệp sớm HOPE, địa chỉ tại số 138 Lê Trọng Tấn, quận Hà Đông, Hà Nội. Quá trình thực hiện chia thành 2 giai đoạn: Giai đoạn 1 từ 13/09/2022 đến 01/12/2022 (thực tập, tiếp nhận ca và can thiệp cá nhân); Giai đoạn 2 từ 11/01/2023 đến 26/04/2023 (thu thập dữ liệu văn bản, rà soát lý thuyết, phân tích số liệu và hoàn thiện báo cáo khóa luận).

Quy mô mẫu khảo sát và các nhóm khách thể tham gia nghiên cứu gồm những ai?

Khách thể nghiên cứu tại Trung tâm HOPE bao gồm: 04 trẻ chậm phát triển ngôn ngữ, 10 cán bộ trực tiếp làm việc với trẻ (thuộc các chuyên ngành giáo dục đặc biệt, công tác xã hội, tâm lý học, xã hội học), 01 người chăm sóc tại cơ sở, và 20 phụ huynh có con tự kỷ được phỏng vấn sâu để bổ trợ dữ liệu định tính. Trong đó, có 01 trường hợp trẻ 3 tuổi (bé Bon) được lựa chọn để thực hành can thiệp công tác xã hội cá nhân chuyên sâu.

Khóa luận đánh giá kỹ năng giao tiếp của trẻ tự kỷ dựa trên những nhóm tiêu chí nào?

Tác giả sử dụng bảng đánh giá gồm 5 nhóm kỹ năng chính, mỗi nhóm gồm 5 tiêu chí cụ thể được cho điểm theo 3 mức độ:

  1. Nhóm kỹ năng tập trung chú ý (lắng nghe, nhìn đối tượng, tập trung chỉ dẫn, thực hiện 1 nhiệm vụ).
  2. Nhóm kỹ năng bắt chước (bắt chước hành động, âm thanh, lời nói, cử chỉ, điệu bộ cảm xúc).
  3. Nhóm kỹ năng luân phiên (đáp ứng yêu cầu, chờ đến lượt, lần lượt thao tác đồ vật/hội thoại).
  4. Nhóm kỹ năng hiểu ngôn ngữ (hiểu chỉ dẫn lời nói kèm cử chỉ, chỉ đúng tranh/vật, hiểu tình huống giả vờ).
  5. Nhóm kỹ năng sử dụng ngôn ngữ (chào hỏi, cảm ơn/xin lỗi, yêu cầu/từ chối, trả lời câu hỏi, duy trì giao tiếp).

Thân chủ nghiên cứu sâu (bé Bon) có những đặc điểm tâm sinh lý và ngôn ngữ cụ thể nào khi bắt đầu can thiệp?

Thân chủ tên thật là B.V (tên ở nhà là Bon), sinh ngày 15/11/2019, tròn 3 tuổi khi bắt đầu can thiệp. Trẻ có thể chất và tâm thần ổn định, sống cùng bố mẹ và em trai hơn 1 tuổi. Hạn chế ngôn ngữ nổi bật: bị ngọng nặng, chỉ nói được câu ngắn 2–3 từ, không nhớ cấu trúc câu chủ - vị, không dùng đại từ nhân xưng, cơ mặt nhăn nhó khi phát âm, không tự vận động để đáp ứng nhu cầu cá nhân (đi vệ sinh, lấy đồ chơi), không quan tâm sách truyện và không bao giờ đặt câu hỏi với người lớn. Điểm tích cực là trẻ thích chơi với em trai và các bạn nhỏ trong nhóm.

Trung tâm HOPE hiện đang vận hành những mô hình can thiệp nào và cơ cấu nhân sự chuyên môn ra sao?

Trung tâm HOPE áp dụng 2 hình thức can thiệp:

  • Hình thức 1: Can thiệp cá nhân 1 giờ/buổi, tần suất 1–2 giờ hoặc 3–4 giờ/tuần dành cho trẻ chậm nói hoặc rối loạn nhẹ.
  • Hình thức 2: Can thiệp cá nhân kết hợp nhóm tích cực cả tuần với thời lượng 3–3,5 giờ/ngày (tối đa 2 giờ can thiệp cá nhân và 1–1,5 giờ học nhóm tại phòng đa năng hoặc sân chơi ngoài trời). Cơ cấu lãnh đạo gồm 1 Giám đốc, 2 Phó Giám đốc. Đội ngũ chuyên môn gồm 9 nhân viên: 3 cử nhân Giáo dục đặc biệt, 4 cử nhân Công tác xã hội, 1 cử nhân Xã hội học và 1 cử nhân Tâm lý học.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Mai Trịnh Linh Chi là một công trình nghiên cứu trường hợp có tính ứng dụng thực tiễn cao, phản ánh chân thực thực trạng can thiệp ngôn ngữ cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ tại cơ sở ngoài công lập. Thông qua việc vận dụng thuyết hệ thống sinh thái, tháp nhu cầu Maslow và tiến trình công tác xã hội cá nhân 7 bước trên thân chủ 3 tuổi, tác giả đã chứng minh hiệu quả của các biện pháp tác động cơ năng phát âm kết hợp điều chỉnh tương tác gia đình. Công trình cung cấp các căn cứ thực tiễn xác đáng cho việc đề xuất bổ sung chứng chậm phát triển ngôn ngữ vào danh mục dạng tật được bảo trợ xã hội tại Việt Nam.