LỜI MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Hội chứng rối loạn tự kỷ (Autism Spectrum Disorders – ASD) ở trẻ em ngày càng tăng thêm trên thế giới và đang trở thành một vấn đề mang tính thời sự được rất nhiều người quan tâm, đặc biệt đây còn là nỗi lo lắng vô hạn của các bậc cha mẹ có con bị tự kỷ. Các thống kê cho thấy số lượng trẻ tự kỷ đang gia tăng một cách đáng báo động ở mọi quốc gia trên thế giới. Tại Việt Nam chưa có con số nghiên cứu chính thức về số lượng trẻ mắc chứng tự kỷ, nhưng theo thống kê sơ bộ của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, nước ta có khoảng 200.000 người mắc chứng tự kỷ, nếu tính theo cách tính của Tổ chức Y tế thế giới, con số này chừng 500.000 và thực tế số lượng trẻ đƣợc chẩn đoán và điều trị ngày càng tăng từ năm 2000 đến nay.
Phạm Minh Mục, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam cho biết, nghiên cứu mô hình tàn tật ở trẻ em của Khoa Phục hồi Chức năng, Bệnh viện Nhi Trung trong giai đoạn 2000-2007 cũng cho thấy, thực tế số lượng trẻ mắc chứng tự kỷ đến khám năm 2007 tăng gấp 50 lần so với thời điểm 7 năm trước đó, xu thế mắc cũng tăng nhanh từ 122% đến 268% trong giai đoạn 2004-2007 so với năm 2000. Tuy mới được thành lập năm 2012, nhưng đến nay đơn vị châm cứu điều trị và chăm sóc đặc biệt cho tự kỷ, bại não (Bệnh viện Châm cứu Trung ương) cũng đã nhận 1.962 trẻ đến điều trị chứng tự kỷ bằng phương pháp châm cứu, cấy chỉ. Số liệu thống kê của Khoa Tâm Thần (Bệnh viện Nhi Trung ương) cũng cho thấy, có sự khác biệt đáng kể giữa tỉ lệ trẻ em trai mắc chứng tự kỷ so với trẻ em gái (số bé trai nhiều hơn từ 4 – 6 lần so với bé gái) và ở thành thị mắc nhiều hơn so với nông thôn. Theo ước tính của một tổ chức nước ngoài, Việt Nam hiện có 165.325 người tự kỷ.
Theo thống kê tháng 4/2016 Việt Nam có hơn 200.000 trẻ, thông tin được đưa ra tại hội thảo quốc tế “Tự kỷ ở Việt Nam hiện nay và thách thức” diễn ra tại Hà Nội. Từ số liệu nêu trên, có thể thấy số trẻ mắc tự kỷ có xu hướng ngày một gia tăng. Tự kỷ không những gây khó khăn cho chính trẻ tự kỷ mà còn có tác động, ảnh hưởng tiêu cực đến gia đình của trẻ tự kỷ. Họ thường không biết phải làm gì hoặc không tìm kiếm các nhà chuyên môn trợ giúp.
Thái độ thương hại hay tội nghiệp của những người thân quen đối với trẻ và gia đình có trẻ tự kỷ lại càng làm cho gia đình đau khổ hơn. Bên cạnh đó, gánh nặng về kinh tế, thời gian chăm sóc trẻ tự kỷ cùng với những mâu thuẫn, những khó Thư viện ĐH Thăng Long 5 Mai Trịnh Linh Chi – A36876 khăn tâm lý đã trở thành nguy cơ đe dọa hạnh phúc gia đình nếu gia đình không biết cách vượt qua vấn đề tự kỷ ở trẻ. Thực tế này cùng với những bằng chứng rõ ràng có thể thấy đƣợc sự tham gia của công tác xã hội trong việc nghiên cứu, hỗ trợ trẻ tự kỷ cũng như gia đình trẻ tự kỷ đã và đang dành được nhiều sự quan tâm của các nhân viên công tác xã hội cũng như các tổ chức xã hội khác. Trẻ em mắc hội chứng tự kỷ phải đối mặt với rất nhiều những khó khăn trong cuộc sống, nhất là vấn đề giao tiếp.
Trẻ bị tự kỷ cũng kéo theo rối loạn ngôn ngữ và chậm phát triển về trí tuệ. Điều này dẫn đến việc khi muốn giao tiếp, trò chuyện cùng trẻ tự kỷ, chúng ta gặp rất nhiều những trở ngại. Cụ thể như: - Lơ là, thờ ơ, không hề quan tâm, chú ý tới người đối diện, chỉ thích ngồi một mình, ôm những con thú cưng, đồ vật bản thân yêu thích. Nó khiến người khác khó tiếp xúc và tiếp tục câu chuyện cùng các em.
Đôi khi, trẻ tỏ rõ sự sợ hãi, chán ghét mọi người xung quanh dẫn đến việc tương tác không hiệu quả. - Trẻ tự kỷ có những hành vi kỳ lạ, bất thường như ngồi lắc lư, đong đưa, tắt bật đèn liên tục, cắn mút ngón tay, ăn những đồ vật như quần áo, vải vóc, sỏi đá,… Nhiều người cho rằng đây là do việc dạy dỗ của cha mẹ không đến nơi đến chốn, làm trẻ bị hư khó bảo và ghét bỏ chúng. Tuy nhiên, đây có thể là một dấu hiệu cho thấy con em của bạn đang mắc chứng tự kỷ do đó hãy cân nhắc việc đưa trẻ đi khám. - Trẻ chậm nói, thậm chí có những đứa trẻ tự kỷ đến 10 tuổi mà vẫn không thể nói được chữ nào.
Trẻ tự kỷ thường nói lắp, lặp từ, chỉ nói được những từ đơn, phát âm không chuẩn và có sở thích nhại lại lời của người khác. Chính các em cũng không hiểu mình đang nói gì làm cho người nghe ức chế, bực bội. - Trẻ rất chậm hiểu và gặp khó khăn trong nhận thức và tiếp thu kiến thức. Chỉ một câu hỏi “ Cháu ăn cơm chưa?” nhưng các em phải mất đến vài phút để hiểu và tìm câu trả lời, có khi không trả lời được.
6 Mai Trịnh Linh Chi – A36876 - Thông thường, trẻ tự kỷ thích sự yên tĩnh, vắng lặp và một mình nhưng cũng có lúc, trẻ trở nên tăng động, đang im lặng bỗng nhiên chạy vòng quanh khắp nhà, nói liến thoắng, la hét, gào khóc ầm ĩ,… Những trẻ mắc hội chứng tự kỷ khó khăn cả về giao tiếp ngôn ngữ và phi ngôn ngữ. Kĩ năng giao tiếp của các em cũng bị hạn chế. Các em khó khăn trong việc hiểu lời nói của người khác, trong việc diễn đạt các câu nói một cách mạch lạc, đôi khi chưa rõ ý, nếu có diễn đạt được thì giọng nói của các em không có âm điệu, không nhấn giọng. Đặc biệt các em khó khăn trong việc giao tiếp bằng mắt, cử chỉ, điệu bộ hay kém khả năng biểu cảm ngôn ngữ cơ thể làm cho những trẻ này không cảm nhận được người khác đang nghĩ gì về mình, hài lòng hay không hài lòng và người khác cũng cảm thấy khó hiểu với chúng.
Những khó khăn đó đã gây trở ngại rất lớn trong việc kết bạn, tham gia vào các hoạt động vui chơi, các quan hệ xã hội. Thêm vào đó, những người xung quanh không hiểu những khó khăn đó, không cảm thông với trẻ, kì thị, xa lánh,… khiến cho trẻ ngày càng mặc cảm, tự ti, thiếu niềm tin vào người khác,…. Từ đó, trẻ dần rút vào “vỏ tự kỷ”, thích sự cô lập, tránh giao tiếp với các bạn. Điều này khiến cho quá trình giao tiếp của trẻ vốn khó khăn lại càng khó khăn hơn.
Tuy nhiên, nếu chúng ta hiểu những khó khăn đó và tạo ra được một môi trường giao tiếp thân thiện, tích cực để hỗ trợ trẻ khắc phục những khó khăn trên thì trẻ sẽ dễ dàng hòa nhập cộng đồng hơn. Ở Việt Nam hiện nay, các công trình nghiên cứu về giao tiếp của trẻ tự kỷ còn rất ít. Chính vì những lý do nêu trên tôi quyết định chọn đề tài: CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN TRONG VIỆC HỖ TRỢ TRẺ MẮC CHỨNG TỰ KỈ CHẬM PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ ( NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TẠI TRUNG TÂM HỖ TRỢ HÒA NHẬP VÀ CAN THIỆP SỚM HOPE). Từ đó nhằm giúp chúng ta có cái nhìn cụ thể hơn về giao tiếp của những trẻ không may mắc phải hội chứng tự kỷ.
Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu 2. Mục đích nghiên cứu Tìm hiểu những khó khăn của trẻ chậm phát triển ngôn ngữ được nghiên cứu thực tiễn tại Trung tâm hỗ trợ hòa nhập và can thiệp sớm HOPE 138 Lê Trọng Tấn, Hà Đông, Hà Nội Thư viện ĐH Thăng Long 7 Mai Trịnh Linh Chi – A36876 Nhân viên CTXH hỗ trợ cho trẻ chậm phát triển ngôn ngữ về mặt ngôn ngữ và tâm lý Ứng dụng phương pháp CTXH với cá nhân để can thiệp hỗ trợ cho trẻ chậm phát triển ngôn ngữ để thấy được vai trò của nhân viên CTXH trong hoạt động hỗ trợ hòa nhập cho trẻ chậm phát triển ngôn ngữ. Nhiệm vụ nghiên cứu Nghiên cứu các vấn đề lý luận về CTXH hỗ trợ giao tiếp cho trẻ chậm phát triển ngôn ngữ cũng như những lý luận CTXH cá nhân trong việc hỗ trợ giao tiếp cho trẻ chậm phát triển ngôn ngữ thông qua việc rà xoát các văn bản pháp luật, chính sách có liên quan cũng như các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước Khảo sát và đánh giá thực trạng hoạt động CTXH cá nhân hỗ trợ giao tiếp cho trẻ chậm phát triển ngôn ngữ từ thực tiễn trung tâm hỗ trợ hòa nhập và can thiệp sớm HOPE. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 3.1 Các nghiên cứu trên thế giới Theo giáo trình ngôn ngữ học đại cương (1916) nghiên cứu của tác giả Saussure một nhà ngôn ngữ học, hoạt động lời nói của cá nhân bao gồm năng lực ngôn ngữ và ngôn ngữ như hệ thống.
Cả hai yếu tố này đều được hiện thực hóa trong lời nói. Nói cách khác, lời nói là ‘’hành vi hiện thực hóa năng lượng của cá nhân nhờ các điều kiện xã hội, tức nhờ ngôn ngữ và ngôn ngữ trong nghĩa rộng của từ này (tức là hoạt động lời nói) nếu tách riêng ra là không thể hiểu được, bởi vì nó có tính không đồng nhất’’ Một luận điểm vô cùng quan trong mà Saussure đề cập đến là khả năng giao tiếp bằng ngôn ngữ khiến con người khác với các loài động vật khác. Ngôn ngữ nói giúp con người truyền đạt thông tin, truyền đạt cảm xúc và biểu thị các mối quan hệ xã hội; Đồng thời, nó cung cấp cho con người phương diện tổ chức tư duy, trí nhớ, cho phép hình thành nên những ranh giới phức tạp của lý trí và giúp con người suy ngẫm về những sự kiện diễn ra trong quá khứ, tương lai và mang tính giả thuyết, hơn là giữ chúng trong hiện tại. 8 Mai Trịnh Linh Chi – A36876 Theo tài liệu của tài liệu nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu Giáo dục trẻ khuyết tật, giai đoạn ngôn ngữ bắt đầu từ 3 tuổi, đây là giai đoạn dài nhất và phức tạp nhất trong việc nắm vững ngôn ngữ, được đánh dấu bởi sự phong phú về cả chất lượng và số lượng ( Khoảng từ 3 tuổi rưỡi đến 5 tuổi, trẻ có thể sở hữu 1.500 từ mà không phải lúc nào cũng biết chính xác ý nghĩa của từ đó) Đồng thời, ngôn ngữ dần trở thành phương tiện để hiểu biết, đây là một sự thay thế kinh nghiệm trực tiếp.