Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, đề tài bao gồm 03 chương như sau: Chương 01: Một số vấn đề lý luận về tội phạm cố ý gây thương tích do người chưa thành niên thực hiện và tình hình tội phạm cố ý gây thương tích do người chưa thành niên thực hiện trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp. Chương 02: Nguyên nhân và điều kiện của tội phạm cố ý gây thương tích do người chưa thành niên thực hiện trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp. Chương 03: Thực trạng phòng ngừa và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động phòng ngừa tội phạm cố ý gây thương tích do người chưa thành niên thực hiện trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp. Tóm tắt đề tài: Đề tài “Nguyên nhân và điều kiện của tội cố ý gây thương tích do người chưa thành niên thực hiện trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp và một số giải pháp” của nhóm tác giả tập 9 trung vào ba vấn đề chính: một là giải thích và đưa ra lý luận chung về tội phạm cố ý gây thương tích do người chưa thành niên thực hiện trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp; hai là nghiên cứu và tìm hiểu các nguyên nhân, điều kiện khách quan, chủ quan của tội phạm trên; thứ ba là căn cứ thực trạng dự báo tội cố ý gây thương tích do người chưa thành niên thực hiện trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp, từ đó nhóm đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động phòng ngừa tội phạm trên và kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam nói chung, Đồng Tháp nói riêng từ các giải pháp có hiệu quả của một số nước phát triển trên thế giới.
Ngoài ra, cơ sở pháp lý mà nhóm có sử dụng để nghiên cứu về hệ thống pháp lý chủ yếu là các Điều khoản được quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỘI PHẠM CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH DO NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN THỰC HIỆN VÀ TÌNH HÌNH TỘI PHẠM CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH DO NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN THỰC HIỆN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG THÁP. Tội phạm cố ý gây thương tích do người chưa thành niên thực hiện 1. Khái quát về tội cố ý gây thương tích Trong phạm vi pháp luật hình sự Việt Nam, hành vi cố ý sử dụng bạo lực gây ra thương tích đối với thân thể của người khác có thể cấu thành Tội cố ý gây thương tích hoặc một số tội khác được quy định trong BLHS hiện hành.
Tội cố ý gây thương tích là một trong những tội phạm xảy ra phổ biến trong đời sống và BLHS hiện hành đã có nhiều sửa đổi, bổ sung đối với tội danh này nhằm đáp ứng yêu cầu trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm hiện nay. Các yếu tố cấu thành tội cố ý gây thương tích bao gồm: mặt khách quan, mặt chủ quan, mặt khách thể và mặt chủ thể. Thứ nhất, về mặt khách quan thì mặt khách quan của tội phạm là những biểu hiện ra bên ngoài của tội phạm. Mặt khách quan của tội phạm bao gồm hành vi khách quan, hậu quả nguy hiểm cho xã hội, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả; những dấu hiệu khác như công cụ, phương tiện, thủ đoạn, thời gian, địa điểm phạm tội,.
● Hành vi khách quan: Hành vi khách quan của tội cố ý gây thương tích biểu hiện dưới hình thức hành động phạm tội, là hành vi tác động đến thân thể của người khác một cách trái pháp luật nhằm gây ra thương tích hoặc tổn hại sức khỏe nhất định. Biểu hiện của những hành vi này rất đa dạng, có thể sử dụng công cụ, phương tiện như dao, mác, gậy, gộc hoặc không sử dụng công cụ, phương tiện như dùng tay chân đấm, đá,. ● Hậu quả: Hậu quả nguy hiểm cho xã hội là thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra cho quan hệ xã hội là khách thể bảo vệ của luật hình sự. Hậu quả của tội cố ý gây thương tích là thương tích hoặc tổn hại về sức khỏe.
Trong đó, thương tích là những dấu vết vết thương để lại trên cơ thể người như vết rách, vết bầm,. còn tổn hại cho sức khỏe thể hiện qua sự rối loạn hoặc suy giảm về chức năng hoạt động của các bộ phận trong cơ thể mà không để lại những vết thương trên cơ thể, ví dụ như sự rối loạn hệ tiêu hóa, sự suy giảm thính giác,. Vì tội cố ý gây thương tích có cấu thành tội phạm vật chất nên hậu quả thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe là dấu hiệu pháp lý bắt buộc. Để hành vi cố ý gây thương tích bị truy cứu TNHS thì hành vi đó phải gây ra thương tích hoặc tổn hại sức khỏe với tỷ lệ tổn thương cơ thể theo đúng quy định của luật.
● Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả: Trong cấu thành tội phạm của tội cố ý gây thương tích, hậu quả là dấu hiệu bắt buộc nên mối quan hệ nhân quả giữa hành vi phạm tội và hậu quả cũng là dấu hiệu bắt buộc. Một người chỉ phải chịu TNHS về hậu quả nguy hiểm cho xã hội nếu hậu quả đó 11 do chính hành vi phạm tội của mình gây ra. Căn cứ vào lý luận mối quan hệ nhân quả thì hành vi cố ý gây thương tích phải xảy ra trước về mặt thời gian và chứa đựng khả năng thực tế làm phát sinh thương tích hoặc tổn hại về sức khỏe cho người khác, đồng thời hậu quả thương tích đã xảy ra cho nạn nhân chính là sự hiện thực hoá khả năng trên, chính là kết quả trực tiếp do hành vi vi phạm gây ra. Thứ hai, về mặt chủ quan thì mặt chủ quan của tội phạm bao gồm lỗi, động cơ và mục đích, trong đó, lỗi là yếu tố bắt buộc trong mọi cấu thành tội phạm.
Lỗi là thái độ tâm lí của con người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra được biểu hiện dưới hình thức cố ý hoặc vô ý. Trong cấu thành của tội cố ý gây thương tích, lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý, có thể là cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hành vi có thể gây ra thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe của người khác và mong muốn hậu quả đó xảy ra hoặc tuy không mong muốn nhưng có ý thức chấp nhận, để mặc hậu quả xảy ra. Thứ ba, về mặt khách thể thì khách thể của tội phạm là các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại đến.
Hành vi cấu thành tội cố ý gây thương tích chính là hành vi cố ý gây thương tích đối với người khác. Hành vi này xâm hại đến sức khỏe của người khác, do đó, khách thể trực tiếp của tội cố ý gây thương tích chính là sức khỏe của con người. Đối tượng tác động của của tội cố ý gây thương tích là thân thể con người. Thông qua việc tác động vào thân thể của con người, hành vi phạm tội xâm phạm, gây thiệt hại cho sức khỏe của người đó.
Thứ tư, về mặt chủ thể thì đối với tội cố ý gây thương tích chủ thể của tội phạm này là người đã có lỗi trong việc cố ý thực hiện hành vi đánh người gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe người khác, có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo luật định là người từ đủ 16 tuổi trở lên có năng lực trách nhiệm hình sự. Theo Điều 12 BLHS hiện hành, người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 3, 4 và khoản 5 điều này (tội rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng). Khái niệm người chưa thành niên phạm tội 1. Khái niệm về người chưa thành niên Theo quy định của pháp luật Việt Nam, tiêu chí quan trọng để phân biệt thanh niên, người thành niên, người chưa thành niên chính là độ tuổi.
Theo Khoản 1 Điều 21 BLDS hiện hành có quy định: “Người chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi”. Dựa trên cơ sở phân tích về tâm lý của người chưa thành niên, có thể thấy người chưa thành niên là người chưa phát triển đầy đủ về thể chất cũng như về tinh thần, bị hạn chế về nhận thức cũng như kinh nghiệm và kỹ năng sống, dễ bị kích động, lôi kéo vào các hoạt động mang cảm giác mạnh, phiêu lưu, mạo hiểm, manh động dẫn đến vi phạm pháp 12 luật. Vì vậy, việc bảo vệ nhóm người chưa thành niên – những mầm non tương lai của đất nước luôn được Nhà nước và toàn xã hội đặt lên hàng đầu. Điều đó thể hiện rõ nét qua việc Việt Nam là nước đầu tiên ở châu Á và nước thứ 2 trên thế giới phê chuẩn Công ước của Liên hiệp quốc về Quyền trẻ em vào ngày 20 tháng 2 năm 1990.
Công ước về quyền trẻ em năm 1989 cũng nêu rõ về việc phải có sự bảo vệ thích hợp về mặt pháp lý đối với trẻ em nói riêng và người chưa thành niên nói chung: “Trẻ em do còn non nớt về thể chất và trí tuệ cần được bảo vệ, chăm sóc đặc biệt, kể cả sự bảo vệ thích hợp về mặt pháp lý trước cũng như sau khi ra đời”. Tại Điều 1 của Công ước này cũng đã ghi nhận “Trẻ em có nghĩa là bất kỳ người nào dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật có thể được áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn”. Điều đó cho thấy rằng pháp luật của mỗi quốc gia sẽ có quy định cụ thể riêng về độ tuổi của người chưa thành niên sao cho phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội, văn hoá, truyền thống của quốc gia đó. Ví dụ tại Hoa Kỳ thì phần lớn pháp luật các bang sẽ quy định người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi, tuy nhiên ở một số bang quy định con số nhỏ hơn.
Hay theo pháp luật Trung Quốc có quy định tại Điều 2 Luật Bảo vệ trẻ vị thành niên CHNDTH, người chưa thành niên là những công dân dưới 18 tuổi. Trong khi đó theo pháp luật Nhật Bản, người chưa thành niên lại là người dưới 20 tuổi. Nhìn chung, khái niệm người chưa thành niên theo pháp luật Việt Nam so với các quốc gia trên thế giới vẫn có sự tương đồng, khi đều có xu hướng chung là quy định độ tuổi dưới 18.