CHƯƠNG 1 • SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN MỘT • VỀ KỶ LUẬT • LAO ĐỘNG • VÀ PHÁP LUẬT • VÈ KỶ LUẬT • LAO ĐỘNG • 1. Một số vấn đề lý luận về kỷ luật lao động 1. Khái niệm, đặc điếm của kỷ luật lao động Từ điển Tiếng Việt định nghĩa kỷ luật là "tổng thể những điều quỵ định có tính chất bắt buộc đối với hoạt động của các thành viên trong một tổ chức, để bảo đảm tính chặt chẽ của tô chức ", và "là một hình thức phạt đối với người vỉ phạm kỷ luật" [55, tr. Từ điển Bách khoa Việt Nam thì đưa ra định nghĩa: Kỷ luật là trật tự nhất định trong hành vi của con người theo những chuẩn mực do luật pháp, đạo đức quy định trong từng thời kỳ lịch sử, vì lợi ích của toàn xã hội hay cùa giai cấp, tập đoàn xã hội riêng rẽ hay của một cộng đồng.
Kỷ luật là phương tiện để thống nhất hoạt động trong cộng đồng [32, tr. Như vậy, có thể hiểu kỷ luật là những quy định, quy tắc, trật tự mà con người phải tuân thủ khi tham gia vào hoạt động của một nhóm người, một tổ chức hay cộng đồng. Các quy định, quy tắc này có thể được dựa trên các chuẩn mực đạo đức hay pháp luật, cũng có thể là quy định nội bộ của một tố chức, bát buộc đối với các thành viên khi tham gia vào hoạt động chung nhằm thiết lập trật tự và hành động chặt chể thống nhất đạt được mục đích chung. Từ điển Bách khoa Việt Nam cũng đưa ra định nghĩa về kỷ luật lao động.
Theo đó, kỷ luật lao động là: Chế độ làm việc đã được quy định và sự chấp hành nghiêm túc và đúng đắn của mỗi cấp, mỗi nhóm người, mỗi người trong quá trình lao động. Tạo ra sự hài hòa trong hoạt động của tất cả các yếu tố, liên kết mọi người vào một quá trình thống nhất [32, tr. Từ những nhận định trên, tác giả đưa ra định nghĩa: “Kỷ luật lao động là những quy định tuân thú chế độ làm việc, nề nếp, trật tự do người sử dụng lao động ban hành hoặc do pháp luật quỵ định mà người lao động phải chấp hành trong quá 8 trình lao động”. Khái niệm này đã đề cập một cách tương đối đầy đủ các khía cạnh cùa kỷ luật lao động đặt trong quan hệ lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động, về bản chất, quan hệ lao động được xác lập trên cơ sở hợp đồng với nguyên tắc tự do khế ước, người lao động và người sử dụng lao động bình đẳng thỏa thuận các vấn đề về hợp đồng lao động.
Tuy vậy, điều này không đồng nghĩa với việc vấn đề kỷ luật lao động của người sử dụng lao động phải cần sự đồng ý của người lao động. Đồng thời, người sử dụng lao động có quyền tổ chức, quản lý điều hành mọi hoạt động doanh nghiệp nhàm tối đa hóa lợi nhuận, trong đó bao gồm quyền kỷ luật lao động. Cụ thế, người sử dụng lao động có quyền ban hành nội quy lao động để điều chỉnh hành vi cũa người lao động cùng với các hình thức, chế tài kỷ luật nếu người lao động vi phạm kỷ luật. Tuy vậy, quyền kỷ luật lao động của người sử dụng lao động không phải là không có giới hạn, bởi người sử dụng lao động khi thuê mướn lao động luôn có xu hướng tối đa hóa lợi nhuận, dễ dẫn đến việc lạm quyền, thiết lập những quy định có lợi cho mình, xâm phạm đến quyền và lợi ích của người lao động.
Do vậy, hầu hết các quốc gia hiện nay đều giới hạn quyền kỷ luật lao động của người sử dụng lao động bàng các quy định của pháp luật. Tùy vào phong tục tập quán, điều kiện kinh tế xã hội mà ở từng quốc gia có mức độ giới hạn khác nhau. Như vậy, có thể hiểu bản chất cùa kỷ luật lao động chính là mệnh lệnh đơn phương của người sử dụng lao động xuất phát từ quyền quản lý của người sử dụng lao động. Việc thiết lập và duy trì kỷ luật lao động là một yêu cầu khách quan, tất yếu trong quá trình sản xuất kinh doanh, người sử dụng lao động phải dựa trên các quy định pháp luật và ý chí chủ quan cùa mình để ban hành nội quy lao động.
Xuất phát từ bản chất đó, kỷ luật lao động mang một số đặc điểm sau đây: Thứ nhất, kỷ luật lao động mang tính khách quan. Khi tham gia vào quan hệ lao động, các bên chủ thể cần có một số quy tắc để điều phối hoạt động của tòng cá thể cho thống nhất. Khi người lao động tập hợp thành một nhóm người, làm việc cho một người sử dụng lao động, kỷ luật lao động xuất hiện như một yêu cầu tất yểu đảm bảo sự hài hòa, thống nhất trong hành vi, giúp các chủ thể đạt được mục đích chung. 9 Thứ hai, kỷ luật lao động mang tính băt buộc.
Kỷ luật lao động mang tính chất bắt buộc đối với tất cả người lao động làm việc trong cùng một tập thế. Pháp luật và người sử dụng lao động sẽ quy định những chế tài để đảm bảo kỷ luật lao động được thực hiện. Kỷ luật lao động có tính bắt buộc nhằm tạo trật tự trong doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp đạt được hiệu quả trong tố chức và hoạt động. Thứ ba, kỷ luật lao động là một nội dung thuộc quyền quản lý lao động của người sù dụng lao động.
Như đã phân tích ở trên, người sử dụng lao động là chủ thề nắm giữ tư liệu sản xuất nên pháp luật trao quyền quản lý cho họ, do đó, họ được thiết lập nội quy lao động trong khuôn khổ pháp luật. Việc ban hành nội quy lao động thuộc nhóm quyền ban hành nội quy, quy chế, ra mệnh lệnh, quyết định trong quyền quản lý lao động của người sử dụng lao động. Vai trò, ý nghĩa của kỷ luật lao động Theo quan điểm của Karl Marx: Tất cả mọi lao động trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trong quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung. Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng [36, tr.
Từ đó, có thể thấy rằng, trong bối cảnh hiện nay, kỷ luật lao động đóng vai trò then chốt trong việc xây dựng mối quan hệ lao động hài hòa, cùng có lợi giừa người lao động và người sử dụng lao động, xa hơn là xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phát triển. Cụ thể, vai trò của kỷ luật lao động đối với người lao động, người sử dụng lao động và đối với nhà nước, xã hội như sau: - Đối với người lao động Người lao động trong quan hệ lao động dù được xác lập thông qua hợp đồng lao động một cách binh đẳng nhưng do người sử dụng lao động là chủ thể nắm giữ tư liệu sản xuất nên người lao động luôn ở vị thế yếu hơn. Bên cạnh đó, không phải người lao động nào cũng có sự hiểu biết pháp luật nên có thề có trường hợp người 10 lao động bị xâm phạm quyên và lợi ích hợp pháp của mình. Do vậy, kỷ luật lao động không chỉ bảo vệ quyền quản lý điều hành của người sử dụng lao động mà còn bảo vệ quyền lợi của người lao động.
Đối với người lao động, kỷ luật lao động có những vai trò, ý nghĩa như sau: Thứ nhất, kỷ luật lao động là căn cứ pháp lý giúp người lao động bảo vệ quyền và lợi ích họp pháp của mình trong quan hệ lao động. Người lao động có thế bảo vệ mình trước việc người sử dụng lao động lạm quyền hay phân biệt đối xử trong xử lý kỷ luật lao động dẫn đến xâm phạm quyền và lợi ích họp pháp của người lao động. Thứ hai, kỷ luật lao động giúp người lao động nhận thức được những nghĩa vụ mà mình phải tuân thủ dưới sự quản lý điều hành của người sử dụng lao động cũng như những hình thức xử lý khi vi phạm. Từ đó, người lao động có thể nâng cao ý thức, trách nhiệm của bản thân trong quan hệ lao động.
Thứ ba, kỷ luật lao động giúp giáo dục, rèn luyện người lao động có ý thức tập thể, tinh thần trách nhiệm, tác phong nề nếp lao động phù hợp với tác phong công nghiệp, tạo ra môi trường lao động thuận lợi, ổn định giúp người lao động hăng say lao động sáng tạo góp phần vào sự phát triển của doanh nghiệp. - Đối với người sử dụng lao động Thứ nhất, kỷ luật lao động là cơ sở để thực hiện quyền quản lý lao động, thiết lập trật tự, kỷ cương trong đơn vị lao động. Kỷ luật lao động giúp người sử dụng lao động có thề tố chức mọi hoạt động của đơn vị lao động một cách khoa học và hiệu quả thông qua việc ban hành nội quy lao động bởi ở các doanh nghiệp có quy mô nhỏ, việc người sử dụng lao động đưa ra mệnh lệnh, yêu cầu đối với người lao động rất nhanh chóng và dễ dàng; tuy vậy, đối với môi trường lao động quy mô công nghiệp, người sử dụng lao động không thế ra mệnh lệnh cho từng ngày đối với mỗi người lao động mà phải ban hành nội quy lao động [47, tr. Nội quy lao động dùng để thể hiện ý chí, mệnh lệnh đơn phương phù hợp với pháp luật cùa người sử dụng lao động đối với người lao động buộc người lao động phải tuân thủ.
11 Thứ hai, kỷ luật lao động là cơ sở pháp lý đê người sử dụng lao động thực hiện quyền xử lý kỷ luật lao động của minh một cách hợp pháp. Thông qua nội quy lao động, người sử dụng lao động thực hiện quyền quản lý điều hành của mình để sắp xếp, quản lý người lao động một cách hợp lý góp phần ổn định sản xuất. Tuy vậy, không phải lúc nào người lao động cũng tuân thủ tuyệt đối, với nhừng hành vi và chế tài được quy định cụ thề trong nội quy lao động, người sử dụng lao động có thể xử lý kỷ luật lao động người lao động vi phạm một cách hợp pháp đế giáo dục, rèn luyện họ, bảo đảm cho hoạt động sản xuất kinh doanh được thuận lợi. Thứ ba, kỷ luật lao động góp phần vào sự phát triền của doanh nghiệp.