PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Để đẩy mạnh phát triển nông nghiệp, nông dân và nông thôn, trong những năm vừa qua, Đảng và Chính phủ đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách quan trọng như: Nghị định số 52/2018/NĐ-CP, ngày 12/4/2018 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn; Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới; Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp…Sau một quá trình thực hiện, nhiều địa phương đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ; tuy vậy, nhìn chung, quá trình thực hiện vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế: các ngành nghề nông thôn còn thiếu và yếu về quy hoạch; công tác đào tạo nghề, đào tạo cán bộ quản lý, chủ doanh nghiệp, thợ lành nghề chưa sát thực tế; nhu cầu vốn còn chưa được đáp ứng; việc ứng dụng khoa học công nghệ vào các làng nghề còn chậm; công tác xử lý ô nhiễm môi trường còn bị buông lỏng, chưa tương xứng với tiềm năng… Một trong những giải pháp nhằm phát triển ngành nghề nông thôn, gắn với xây dựng nông thôn mới và cơ cấu lại ngành nông nghiệp được nhiều địa phương thực hiện thành công; đó là việc phát triển Chương trình “Mỗi xã một sản phẩm” gọi tắt là “OCOP”. Đây là mô hình được học tập từ Chương trình “Mỗi làng một sản phẩm của Nhật Bản” (OVOP), Chương trình đã được triển khai rộng rãi ở Nhật Bản từ thập niên 70 của thế kỉ trước và đã đem lại nhiều lợi ích cho cả nhân dân và chính quyền sở tại. Thực chất của OCOP là tập hợp các nguồn lực nhằm triển khai thực hiện đồng bộ hệ thống giải pháp nhằm phát triển một (hoặc một số) sản phẩm chủ lực của mỗi địa phương (sản phẩm chủ lực là sản phẩm có đầy đủ các yếu tố thuận lợi nhất nếu phát triển sẽ đem lại lợi ích tối đa cả về kinh tế, xã hội và môi trường); góp phần thực hiện có hiệu quả bộ tiêu chí “Kinh tế và hình thức tổ chức sản xuất” trong Bộ tiêu chí Quốc gia về xây dựng nông thôn mới; phát triển kinh tế nông thôn góp phần thực hiện cơ cấu lại nền kinh tế nông thôn theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững.
Thông qua đó, góp phần giảm thiểu tình trạng lao động nông thôn di cư ra thành thị, bảo vệ môi trường và giữ gìn ổn định xã 1 hội nông thôn. Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo cả nước thực hiện chiến lược phát triển “mỗi xã một sản phẩm”. Thực hiện chủ trương trên, tỉnh Tây Ninh đã ban hành “Đề án thực hiện Chương trình quốc gia mỗi xã một sản phẩm trên địa bàn tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2020 – 2025, tầm nhìn 2030” nhằm xác định tiềm năng và lợi thế cạnh tranh để xác định các sản phẩm chủ lực phục vụ xây dựng nông thôn mới gắn với cơ cấu lại kinh tế nông thôn theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững. Trong đề án thực hiện chương trình quốc gia mỗi xã một sản phẩm (OCOP) trên địa bàn tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2020-2025, Mãng cầu nằm trong nhóm sản phẩm 4 sao (Sở Nông nghiệp & phát triển nông thôn, 2020).
Điểm mạnh của sản phẩm này là cây đặc sản, nổi tiếng khắp cả nước, từ năm 2011, Cục Sở hữu Trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) đã có Quyết định số 1804/QĐ-SHTT ngày 10/08/2011 về việc cấp Giấy chứng nhận đăng ký Chỉ dẫn địa lý số 00027 cho sản phẩm Mãng cầu Bà Đen. Đây là đặc sản đầu tiên của tỉnh Tây Ninh và là sản phẩm thứ 27 trên cả nước được đăng bạ về giấy chứng nhận Chỉ dẫn địa lý. Tỉnh Tây Ninh hiện có khoảng 5.486 ha trồng Mãng cầu, lớn nhất cả nước sản lượng đạt 69.579 tấn/năm, cho trái quanh năm, được phân bố thành từng vùng khá tập trung quanh chân núi Bà Đen và các vùng phụ cận tại 8 xã thuộc Thành phố Tây Ninh, huyện Tân Châu và huyện Dương Minh Châu; có khoảng 180 ha sản xuất theo quy trình VietGap (Cục Thống Kê Tỉnh Tây Ninh, 2022). Đã có 4 cá nhân, tổ chức được cấp quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý1 với diện tích khoảng 52,7 ha, năng suất trung bình 14,8 tấn/ha, sản lượng bình quân 916 tấn/năm.
Sản phẩm đang có sức cạnh tranh khá, lãi cao với khoảng 200 triệu đồng/ha/năm. Nhiều hộ đã và đang áp dụng nhiều biện pháp kỹ thuật; trong đó có tăng vụ, tưới tiết kiệm, sản xuất theo quy trình VietGap…. Có bao bì nhãn mác; sử dụng lao động địa phương. Tuy nhiên, trong thực tế, dù đã có thương hiệu, đăng ký nhãn hiệu nhưng việc 1 * Năm 2016: Công ty TNHH MTV Nam Trạng; Đại diện pháp lý: Ông Lê Hoàng Nam.
* Năm 2020: Công ty Cổ phần NATANI, Đại diện pháp lý: Ông Nguyễn Thế Tân; Công ty TNHH Biển Chiêu, Đại diện pháp lý: Ông Huỳnh Biển Chiêu. * Năm 2021: Hộ kinh doanh Cửa hàng đặc sản Lá Vị Quê Mình; Đại diện pháp lý: Bà Lê Thị Thu Hà. 2 áp dụng các tiêu chuẩn trồng trọt và sản xuất chưa đồng đều nên chất lượng không đồng nhất và năng suất không ổn định; thiếu các cơ quan xúc tiến thương mại; chưa phổ biến rộng rãi về hình ảnh, thương hiệu. nhận thức, ý thức trách nhiệm, ý thức tập thể của các hộ sản xuất, kinh doanh trong phát triển thương hiệu Mãng cầu “Bà Ðen” chưa cao, chưa thấy được lợi ích lâu dài trong việc phát triển thương hiệu mang chỉ dẫn địa lý; việc phát huy vai trò của các sở, ngành, UBND huyện, thành phố có liên quan trong triển khai Quyết định số 14/2012/QÐ-UBND ngày 22/02/2012 của UBND tỉnh về ban hành Quy chế phối hợp quản lý và sử dụng CDÐL Bà Ðen cho sản phẩm trái Mãng cầu chưa cao.
Từ lý do đó, tác giả cho rằng việc chọn đề tài nghiên cứu “Giải pháp phát triển thương hiệu đặc sản Mãng cầu Bà Đen của tỉnh Tây Ninh” là hết sức cần thiết, có tính lý luận và thực tiễn cao để có định hướng khắc phục những hạn chế, tồn tại, đồng thời, hướng đến phát triển thương hiệu Mãng cầu Bà Đen mang tính tập trung, bền vững và đạt chất lượng tốt phục vụ cho nội tiêu và xuất khẩu, góp phần thúc đẩy sự phát triển sản xuất nông nghiệp của tỉnh Tây Ninh. Các công trình nghiên cứu có liên quan 2. Nghiên cứu ngoài nước Qua quá trình tra cứu và lược khảo nhiều tài liệu khác nhau đối với các mảng vấn đề liên quan đến luận văn mà tác giả dự định nghiên cứu. Tác giả xin nêu ra một số các công trình tiêu biểu như sau: * Nghiên cứu của Pongpanich & Phitya-Isarakul (2008)- Chiến lược Thương hiệu trái cây - Tình huống của Thái Lan tại Trung Quốc Nhóm nghiên cứu đã đề xuất một số vấn đề nhằm xây dựng chiến lược thương hiệu trái cây Thái Lan tại Trung Quốc như sau: thứ nhất là cần xây dựng “Hội đồng thương mại về trái cây Thái Lan” do chính phủ quản lý để kiểm soát và điều phối các vấn đề chung cho Thương hiệu trái cây như: thực hiện marketing, thương hiệu, quản lý logistic và chuỗi cung ứng cho toàn thị trường…thứ hai là tiếp tục thúc đẩy truyền thông đặc tính nổi trội của các chủng loại trái cây (core value) gắn liền với Thái Lan, đặc biệt là cải tiến chất lượng để giữ vững giá trị trong người tiêu dùng.
3 Thứ ba là hợp tác và giúp đỡ các nhà nhập khẩu/phân phối tại Trung Quốc mở rộng thị trường và tăng hiện diện hình ảnh Thương hiệu trái cây Thái Lan tại Trung Quốc. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng trái cây Thái Lan nằm ở giai đoạn phát triển (Growing Market) – có nghĩa là thị trường chấp nhận bán, ưu tiên lựa chọn mua cao và mở rộng nhanh tại nhiều Thành phố khác tại Trung Quốc. Xoài tăng trưởng mạnh tại Trung Quốc, trong khi đó Sầu riêng và Nhãn ổn định, nhóm tăng trưởng tiềm năng là Chuối và Bưởi. Kết quả nghiên cứu cũng cho rằng tầng xuất tiêu dùng tăng đối với Sầu riêng và đã tăng dùng thử trong 12 tháng qua đối với những nhóm trái cây khác.
Nghiên cứu nhận thức của người tiêu dùng về trái cây Thái Lan chủ yếu là vị ngon, tươi, an toàn và cho nhiều nước (juiciness)…nhóm đặc tính này làm nổi bật trái cây Thái Lan tại Trung Quốc. Sau hết, kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng trái cây Thái Lan phải cải thiện hình ảnh Thương hiệu trái cây tại điểm bán (merchandising), thiết lập chuỗi nhà cung ứng an toàn (chống trái cây giả), mở rộng hiện diện ngành hàng ra nhiều điểm bán (trust importers) và tái cơ cấu chuỗi cung ứng để trái cây sớm ra thị trường (value chains). * Nghiên cứu của Beverland (2001) - Tạo ra giá trị Thương hiệu trái cây- Tình huống ZESPRI của trái Kiwi Năm 1997, ủy ban tiếp thị kiwi New Zealand (The New Zealand Kiwi Marketing Board) quyết định cần thiết phải có 1 chiến lược tổng thể Thương hiệu kiwi của New Zealand và đề ra bộ phương thức cạnh tranh định hướng khách hàng dưới sự hợp tác của hơn 27 nghìn nhà vườn trồng kiwi, tên Thương hiệu chung đại diện cho kiwi New Zealand được gọi là ZESPRI với mục tiêu tạo khác biệt hóa sản phẩm, cố gắng tạo ra giá trị gia tăng thông qua cái tên này nhằm làm khách hàng chấp nhận giá cao, thúc đẩy khách hàng tiêu dùng kiwi và sử dụng kiwi thường xuyên. Tham vọng của chiến lược Thương hiệu ZESPRI hướng tới: 1.
Tạo ra điểm tiếp súc Thương hiệu bằng tên riêng khác với kiwi, 2. biến tên ZESPRI thành tên chung cho ngành kiwi của New Zealand trên toàn cầu, 3. xây dựng giá trị cảm nhận Thương hiệu xung quanh giá trị New Zealand và ZESPRI, 4. nổ lực thực thị marketing tên Thương hiệu ZESPRI, 5.
biến tên Thương hiệu ZESPRI thành 4 Thương hiệu chủ đạo (master brand) nhằm mở rộng chủng loại trái cây khác trên toàn cầu. Mục tiêu chiến lược, thông điệp định vị của Thương hiệu tập trung vào 2 giá trị cảm nhận; quốc gia New Zealand và những liên tưởng cảm nhận của người tiêu dùng về trái kiwi (vui vẻ, sức khỏe, khẩu vị dễ ăn hàng ngày, nhiều giá trị dinh dưỡng, ngon…), điều này khác hoàn toàn với cách tiếp cận truyền thống khi định vị Thương hiệu theo thành phần chất chủng loại trái cây. Kế đến là mở rộng chủng loại để đảm bảo sự khác biệt với thị trường; 3 loại kiwi được đưa ra gồm Vàng, Xanh, Truyền thống.đã làm tăng giá trị khác biệt hóa trên thị trường (Vàng là cho thị trường Châu Á, Xanh cho New Zealand và Úc…). Quan trọng hơn là việc mở rộng thị trường quốc tế và thúc đẩy truyền thông mạnh ở Châu Âu, Đức và Nhật và khắp Châu Á.