ĐẶT VẤN ĐỀ Tiền sản giật là m t biến chứng phổ biến khi mang thai và cũng là nguyên nhân của 10-15% các trường hợp tử vong ở mẹ [42]. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc (UNICEF), Quỹ Dân số Liên hiệp quốc (UNFPA) và Ngân hàng thế giới, vào năm 2 1 , trên thế giới có 287.000 bà mẹ tử vong [62]. Ngoài ra, tiền sản giật cũng là nguyên nhân hàng đầu của các trường hợp có chỉ định chủ đ ng chấm dứt thai kì trên thai nhi non tháng; 15% các trường hợp sinh non có nguyên nhân tiền sản giật [46]. Tiền sản giật bao gồm 2 triệu chứng chính là tăng huyết áp và protein niệu.
Đây là m t bệnh l phức tạp thường xảy ra trong 3 tháng cuối của thời kỳ thai nghén và có thể gây nên những biến chứng nguy hiểm đến sức khoẻ và tính mạng của thai phụ và trẻ sơ sinh. Theo báo cáo của WHO (2014), tỷ lệ mới mắc của tiền sản giật trên toàn thế giới là 2,16% [24]. Tại Thái Lan (2018), tỷ lệ tiền sản giật là 5,2% và tiền giản giật nặng 8,0/10. Tỷ lệ này có sự chênh lệch giữa các nước, các v ng khác nhau trong m t quốc gia và đặc biệt giữa các năm.
Tỷ lệ mắc bệnh thay đổi t y theo t ng khu vực trên thế giới, khoảng t 2-10%. Đặc biệt ở Việt Nam, tiền sản giật là m t trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở thai phụ với tỉ lệ mắc là 4-8%. Theo nghiên cứu của Nguyễn Hữu Trung, tỷ lệ mắc tiền sản giật là 4,4% [21]. Tiền sản giật thường được ch n đoán dựa trên huyết áp, protein niệu và m t số các xét nghiệm cận lâm sàng như c ng thức máu Hematocrit, Hemoglobin, tiểu cầu , chức năng thận, chức năng gan, dự trữ kiềm toan máu , áp lực keo, soi đáy mắt, siêu âm thai đánh giá tình trạng thai,.
[20, 22] Tiền sản giật có thể gây những biến chứng nặng cho mẹ như: sản giật, rau bong non, rối loạn đ ng máu, suy gan, suy thận, chảy máu, ph phổi cấp. Đặc biệt đối với thai nhi, tiền sản giật có thể gây ra những hậu quả như: thai 2 chậm phát triển, suy thai,thai lưu, ngoài ra tiền sản giật cũng là nguyên nhân làm tăng tỉ lệ bệnh và di chứng về thần kinh, vận đ ng và trí tuệ cho trẻ sau này [22, 26]. Đối với thai phụ có tiền sản giật nặng nếu không được điều trị kịp thời, tích cực có thể xảy ra nguy cơ sản giật, khi đó nguy cơ tử vong cho mẹ và thai nhi sẽ tăng lên rất nhiều. Vì vậy việc phát hiện sớm, điều trị kịp thời, tích cực các rối loạn do tiền sản giật nặng, sản giật gây ra là rất cần thiết để giảm tai biến cho mẹ và con.
Chính vì l do đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu về kết quả điều trị tiền sản giật trong 3 tháng cuối tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội, năm 2021-2022” với 2 mục tiêu: 1. Mô tả triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng của các thai phụ tiền sản giật xuất hiện ở 3 tháng cuối thai kì tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội trong 2 năm 2021-2022. Nhận xét thái độ xử trí đối với các trường hợp tiền sản giật xuất hiện ở 3 tháng cuối thai kì tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội trong 2 năm 2021-2022. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1.
Định nghĩa tiền sản giật Theo Quyết định 1911 của B Y tế về về việc ban hành tài liệu “Hướng dẫn sàng lọc và điều trị dự phòng tiền sản giật, tiền sản giật là rối loạn chức năng nhiều cơ quan liên quan đến thai nghén đặc trưng với sự xuất hiện triệu chứng tăng huyết áp (THA) và protein niệu hoặc các triệu chứng lâm sàng liên quan đến tổn thương nhiều cơ quan do ảnh hưởng của tiền sản giật [3] Theo hiệp h i sản phụ khoa ỹ C G năm 2 14, tiền sản giật được định nghĩa là h i chứng bệnh l đặc trưng bởi tăng huyết áp ở nửa sau của thai kỳ k m theo protein niệu. Tiền sản giật có thể biểu hiện với nhiều dấu hiệu khác: đau đầu, đau thượng vị và ph tăng nhanh [32]. Theo ước tính của WHO, tỷ lệ tiền sản giật ở các nước đang phát triển cao hơn gấp 7 lần so với các nước phát triển. Tỷ lệ tiền sản giật dao đ ng t 1,8 đến 16,7% ở các nước đang phát triển [40].
Tỷ lệ tiền sản giật khác nhau ở các nghiên cứu nhưng nhìn chung dao đ ng xung quanh 2- 8% [63]. Tỷ lệ tiền sản giật trong nghiên cứu tại Châu là 1,4% [44]. Báo cáo của hiệp h i sản phụ khoa Mỹ năm 2 14 tỷ lệ tiền sản giật đã tăng 25% trong 2 thập kỷ qua [32]. Nguyên nhân và cơ chế sinh bệnh học 1.
Nguyên nhân Nguyên nhân gây ra tiền sản giật cho đến nay vẫn chưa tìm ra chính xác, m t số nghiên cứu cho rằng: - Tiền sản giật là bệnh lý n i mạc mạch máu của người mẹ, bắt nguồn t bánh rau. - Tiền sản giật là m t h i chứng bệnh lý chỉ xảy ra ở người, không quan sát thấy ở đ ng vật. 4 Hiện nay, nguyên nhân sinh bệnh tiền sản giật thuyết phục nhất là yếu tố di truyền và các rối loạn chức năng miễn dịch trong cơ thể người mẹ [22, 43]. Cơ chế sinh bệnh học - ếu tố nội m mạch máu Hình 1.1 Động mạch ở t nh trạng ệnh hác nh u [10] Nhiều nghiên cứu đã chứng minh mối liên quan giữa các tế bào n i m và yếu tố miễn dịch trong tiền sản giật, nó có thể là kết quả của sự tương tác giữa các yếu tố miễn dịch, tim mạch và yếu tố chuyển hóa.
Ở các thai phụ mắc tiền sản giật người ta thấy có sự rối loạn xâm lấn của tế bào nu i vào thành đ ng mạch xoắn ốc ở bánh rau dẫn đến giảm tưới máu tử cung - rau gây ra tình trạng thiếu máu cục b rau thai. Hậu quả của việc thiếu máu cục b rau thai là tạo ra các cytokine phản ứng viêm và các sản ph m xy hóa gây rối loạn chức năng n i m của người mẹ. Tiểu động mạch trong tiền sản giật [10] 5 -S m nhập củ tế o lá nu i trong tiền sản giật Sự hạn chế xâm nhập của tế bào nu i dẫn đến việc giữ nguyên cấu tr c mạch của đ ng mạch xoắn ốc tử cung, t đó dẫn đến sự thiếu máu tử cung - rau trong thai kì và hậu quả của nó là làm hoạt hóa hệ thống Renin - Angiotensin gây co mạch, tăng huyết áp [18, 45, 47]. Tuần ho n tử cung – rau thai [10] - Sự xâm lấn của tế bào lá nuôi và n i mô mạch máu: Trong thai kỳ bình thường có khoảng 100- 300 đ ng mạch xoắn ốc đổ vào các gai rau, phần tận cùng của các đ ng mạch xoắn ốc bị thay đổi cấu trúc do tác đ ng xâm lấn của tế bào lá nuôi vào n i mạc mạch máu khi phôi làm tổ.
Các tế bào lá nu i làm cho thành đ ng mạch xoắn ốc mềm mại, giãn ra, tháo xoắn, không co thắt lại được và đặc biệt không nhạy cảm với các chất gây co hoặc giãn mạch tạo nên đ ng mạch tử cung- rau. Đ ng mạch tử cung - rau có đặc điểm là thành mỏng, mềm mại và kích thước lớn hơn rất nhiều so với đ ng mạch xoắn ốc ban đầu, đây chính là thay đổi giải phẫu quan trọng của hệ thống tuần hoàn tử cung, dẫn đến những thay đổi quan trọng về huyết đ ng, làm giảm mạnh trở kháng ngoại biên, giúp cho tuần hoàn tử cung trở nên dễ dàng hơn so với trước khi có thai. Ở bệnh nhân tiền sản giật không có hiện tượng xâm lấn của tế bào lá nuôi vào n i mô mạch máu. Các đ ng mạch xoắn ốc vẫn tồn tại các lớp cơ 6 chun giãn, hoặc quá trình xâm lấn của các tế bào nuôi chỉ xảy ra ở đoạn mạch máu nằm ở trong lớp màng rụng làm cho thành mạch không mềm mại và vẫn còn nhậy cảm với những chất có tác dụng co và giãn mạch làm tăng trở kháng của mạch dẫn đến giảm tưới máu bánh rau.
Tuần ho n mẹ v th i [10]. - Str ss o h r u th i trong tiền sản giật Các hoạt đ ng của m t số chất chống xy hóa các enzyme trong tế bào rau thai bình thường tăng lên song song với sự gia tăng áp lực của oxy xảy ra l c 1 - 12 tuần tuổi thai. Các tác giả đưa ra giả thuyết rằng có sự giảm phản ứng chống xy hóa đã tạo nên tình trạng stress oxy hoá. Điều này có thể dẫn đến thoái hóa lá nu i ph i và có thể góp phần dẫn đến sự suy giảm xâm nhập lá nu i ph i [56].
- ếu tố i tru ền Các nghiên cứu về dịch tễ học và phả hệ chứng minh tiền sản giật có tính chất gia đình. Tiền sản giật là bệnh đa yếu tố do nhiều gen chi phối. Cho đến nay, ước tính có hơn 7 gen được nghiên cứu có liên quan đến sự phát triển bệnh l tiền sản giật. Các gen này thu c năm nhóm chức năng có liên quan đến cơ chế bệnh sinh của tiền sản giật : sinh huyết khối, thương tổn oxy hóa và chuyển hóa lipid, chức năng n i mạc và sinh mạch máu, điều h a miễn dịch, huyết đ ng học [53].
Một số yếu tố nguy cơ của tiền sản giật Theo khuyến cáo của C G các yếu tố nguy cơ của tiền sản giật bao gồm tiền sử những lần mang thai trước bị tiền sản giật, tăng huyết áp mãn tính hoặc bệnh thận mãn tính, bệnh chảy máu di truyền, đa thai, IVF, tiền sử gia đình bị tiền sản giật, đái tháo đường, béo phì, mẹ lớn tuổi, hoặc mẹ bị bệnh Lupus ban đỏ hệ thống. ếu tố gi đ nh Nhiều nghiên cứu cho rằng tiền sản giật là hậu quả của m t rối loạn di truyền đa nhân tố. Do vậy, kh ng chỉ là m t gen có l i mà có thể là nhiều gen. Tuy nhiên, người mang gen bệnh kh ng chắc chắn sẽ xuất hiện bệnh mà còn chịu tác đ ng bởi các yếu tố khác như: tuổi, bệnh l khác k m theo, m i trường sống và điều kiện sinh hoạt.
Điều này được chứng minh qua các nghiên cứu về yếu tố gia đình trong tiền sản giật.