Chương 1: Giới thiệu đề tài Trong chương này luận văn sẽ trình bày lý do lựa chọn đề tài, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu cần được hoàn thành. Từ đó chỉ ra đối tượng và phạm vi nghiên cứu cho luận văn. Đồng thời, chương này cũng trình bày tổng quát về phương pháp nghiên cứu để giải quyết các mục tiêu và trả lời các câu hỏi nghiên cứu. Cuối cùng, chương cũng chỉ ra được mặt đóng góp về thực tiễn của luận văn này.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu trước Trong chương này luận văn sẽ tiến hành tổng hợp các lý thuyết nền tảng liên quan đến TTTD cũng như các tiêu chí đo lường, xác định các yếu tố tác động đến TTTD tại các NHTM. Đồng thời lược khảo các nghiên cứu liên quan và thông qua nhận xét các khoảng trống nghiên cứu. Chương 3: Mô hình và phương pháp nghiên cứu Trong chương này luận văn sẽ dựa trên các các khoảng trống nghiên cứu từ chương 2 để đề xuất mô hình và giả thuyết nghiên cứu áp dụng cho bối cảnh các NHTM Việt Nam. Sau đó, chương này sẽ trình bày về phương pháp đo lường biến, lấy mẫu và thu thập dữ liệu.
Cuối cùng chương này sẽ trình bày các phương pháp tính toán và ý nghĩa của các hệ số tính toán. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Trong chương này luận văn sẽ dựa trên dữ liệu thứ cấp thu thập đánh giá ban đầu về tình hình TTTD tại các NHTMCP Việt Nam trong giai đoạn 2012 – 2022. 7 Sau đó sẽ tiến hành thống kê mô tả, xem xét sự tương quan của các biến số trong mô hình nghiên cứu. Tiếp đó, thực hiện hồi quy dữ liệu cho ra kết quả các mô hình tương ứng và kiểm định sự phù hợp, các khuyết tật và khắc phục chúng để cho ra kết quả cuối cùng.
Từ kết quả đó sẽ kết luận giả thuyết nghiên cứu và thảo luận đối sánh kết quả này với các nghiên cứu liên quan. Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị Trong chương này luận văn sẽ kết luận tóm tắt các kết quả đã đạt được, đánh giá lại mức độ tác động của các yếu tố đến TTTD tại các NHTMCP Việt Nam. Từ đó tạo ra cơ sở để đề xuất các hàm ý khả thi cho các NHTMCP Việt Nam nhằm TTTD. 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC Chương 2 sẽ tiến hành tổng hợp các lý thuyết nền tảng liên quan đến TTTD cũng như các tiêu chí đo lường, xác định các yếu tố tác động đến TTTD tại các NHTM.
Đồng thời lược khảo các nghiên cứu liên quan và thông qua nhận xét các khoảng trống nghiên cứu. LÝ THUYẾT VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG 2. Khái niệm tín dụng ngân hàng Theo Hồ Diệu (2001) “Tín dụng là quan hệ vay mượn, quan hệ sử dụng vốn lẫn nhau giữa người đi vay và người cho vay dựa trên nguyên tắc có hoàn trả”. Theo Nguyễn Văn Ngọc (2012): “Tín dụng thường được dùng để chỉ các loại hình cho vay có hiệu ứng tiền tệ, tức làm tăng cung ứng tiền tệ (khi sự gia tăng mức cho vay của ngân hàng dẫn tới sự gia tăng của tiền gửi ngân hàng), hoặc làm tăng các phương tiện thay thế tiền, chẳng hạn tín dụng thương mại.
Mối quan hệ giữa tiền và tín dụng này là mối liên hệ trực tiếp ở cấp kinh tế vĩ mô, khi người ta phân tích sự thay đổi của cung ứng tiền tệ trên phương diện mở rộng tín dụng trong nước.” Nguyễn Văn Tiến (2015) cho rằng tín dụng ngân hàng là việc ngân hàng chấp thuận để khách hàng sử dụng một lượng tài sản (bằng tiền, tài sản thực hay uy tín) trên cơ sở lòng tin khách hàng có khả năng hoàn trả gốc và lãi khi đến hạn. Mối quan hệ tín dụng này được thể hiện dưới các hình thức: cho vay, chiết khấu, bảo lãnh và cho thuê tài chính. Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác “ (Theo Điều 4, Luật các tổ chức tín dụng; Luật số 47/2020/QH15). 9 Như vậy, tín dụng ngân hàng trong luận văn này được hiểu là một thỏa thuận “ giữa người cho vay là ngân hàng, người đi vay có thể là cá nhân, doanh nghiệp, chủ thể kinh tế khác hay thậm chí là một ngân hàng.
Người đi vay có nghĩa vụ phải trả đủ số tiền hoặc hàng hóa đã đi vay khi đến hạn, có thể kèm hoặc không kèm theo lãi. Tín dụng ngân hàng là một hình thức tín dụng vô cùng quan trọng và chủ yếu trong nền kinh tế hiện nay. Vai trò của tín dụng ngân hàng Tín dụng có vai trò quan trọng đối với hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh, tiêu dùng của các chủ thể trong nền kinh tế ở các nước trên thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng. Trước tình hình nền kinh tế mở cửa, hội nhập, tham gia vào các hiệp định song phương và đa phương của mỗi quốc gia thì tín dụng ngân hàng ngày càng phát huy được lợi thế ở các khía cạnh sau: Tái phân bổ tiền, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn: Thông qua kênh tín dụng, các ngân hàng tái phân bổ tiền từ chủ thể có nguồn tiền nhàn rỗi tạm thời tới chủ thể đi vay.
Hay nói cách khác, tín dụng tập trung được nguồn vốn trong nền “ kinh tế và cho vay lại qua đó điều hòa được cung – cầu tiền tệ trên thị trường, đáp ứng linh hoạt nhu cầu về vốn của các thành phần kinh tế trong xã hội, giúp cho quá trình sản xuất được liên tục, đẩy mạnh quá trình tái sản xuất (King và Levine, 1993; Levine, 1997). Ngoài ra khi sử dụng vốn vay của ngân hàng, khách hàng bị ràng buộc bởi trách nhiệm hoàn trả vốn gốc cộng lãi trong thời gian nhất định. Do đó, buộc các khách hàng phải sử dụng vốn một cách hiệu quả, vừa mang lại lợi nhuận cho chính khách hàng và đảm bảo nghĩa vụ với ngân hàng. ” Góp phần thúc đẩy quá trình mở rộng sản xuất, đẩy mạnh đầu tư phát triển: Các chủ thể trong nền kinh tế không chỉ dừng lại ở quy mô sản xuất hiện tại, trước “ thực tế hội nhập với sự cạnh tranh trên thị trường giữa khu vực tư nhân với khu vực có vốn đầu tư nước ngoài thì nhu cầu về vốn để mở rộng sản xuất, nâng cao năng lực cạnh tranh là điều tất yếu.
Tín dụng theo đó ngày càng phát triển, đa dạng các 10 loại hình vay gửi, linh hoạt về thời hạn và hình thức giải ngân, đảm bảo đáp ứng kịp thời nhu cầu về vốn của doanh nghiệp trong việc mở rộng sản xuất kinh doanh, đầu tư dự án, tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế (Levine, 2002). ” Kênh truyền tải chính sách tiền tệ linh hoạt và hiệu quả: Chính sách tiền tệ là một trong những chính sách kinh tế vĩ mô trong đó Ngân hàng trung ương thông qua các công cụ của mình để kiểm soát và điều tiết lượng tiền cung ứng hoặc lãi “ suất nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế vĩ mô về giá cả, sản lượng và công ăn việc làm (Tô Ngọc Hưng, 2012). Dựa vào chính sách tiền tệ của Ngân hàng trung ương và sức hấp thụ vốn của nền kinh tế trong mỗi thời kỳ, thông qua kênh tín dụng, Ngân hàng trung ương có thể can thiệp vào lãi suất, tỷ lệ dữ trữ bắt buộc và hạn mức tăng trưởng về quy mô tín dụng, nhằm đảm bảo lượng tiền trong lưu thông ở mức phù hợp, vừa đáp ứng tốt nhu cầu về vốn cho nền kinh tế vừa ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát (Giné và Townsend, 2004; Amaral và Quintin, 2010). ” Góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia: Năng lực cạnh tranh quốc gia là tổng hợp các thể chế, chính sách và nhân tố quyết định mức độ hiệu “ quả, tính năng suất của một quốc gia.
Với vai trò trụ cột trong việc phân bổ nguồn vốn cho nền kinh tế, thúc đẩy mở rộng các hoạt động đầu tư, sản xuất vào ngành kinh tế mũi nhọn, tăng khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp và là công cụ thực thi chính sách tiền tệ, ổn định kinh tế vĩ mô, tăng trưởng tín dụng đóng góp một phần quan trọng cho tăng trưởng bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh của Việt Nam trên trường quốc tế trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt của hội nhập (Buera và cộng sự, 2011). TĂNG TRƯỞNG TÍN DỤNG 2. Khái niệm tăng trưởng tín dụng tại các ngân hàng thương mại Tăng trưởng tín dụng là một sự gia tăng trong giá trị dư nợ cho vay trong khu vực tư nhân (bao gồm cả đối tượng là các cá nhân và các tổ chức). Một khi quy mô tín dụng gia tăng, khách hàng có thể vay mượn được nhiều hơn để sử dụng cho các 11 mục đích chi tiêu, đầu tư và kinh doanh.
(Bottazi và cộng sự, 2014) Theo Nguyễn Văn Tiến (2015) thì “Tăng trưởng tín dụng là việc các ngân hàng thương mại sử dụng chính sách nhằm tăng nguồn vốn huy động, đáp ứng cho việc cấp tín dụng, chiết khấu, đầu tư vào những đối tượng là các tổ chức kinh tế, cá nhân, v.v có nhu cầu vay vốn, từng bước nâng cao lợi nhuận, thị phần và thương hiệu trên thị trường”. Tăng trưởng tín dụng là vấn đề mà các NHTM rất quan tâm bởi tăng trưởng tín dụng một cách hợp lý và chất lượng sẽ tạo ra nguồn thu nhập ổn định và an toàn cho các ngân hàng (Nguyễn Thùy Dương và Trần Hải Yến, 2011). Phan Thị Thu Hà (2013) cho rằng “Tăng trưởng là khái niệm đo lường sự tăng thêm về giá trị trong một khoảng thời gian nhất định. Nói cách khác, TTTD là tỷ lệ phần trăm (%) gia tăng lượng tiền cho các cá nhân, tổ chức vay của năm này so với năm trước.
Chẳng hạn, tổng dư nợ cho vay của năm ngoái là 100 tỷ đồng, năm nay là 130 tỷ đồng thì TTTD năm nay là 30%”. Theo đó, TTTD được hiểu là sự tăng lên của các khoản tín dụng do hệ thống “ ngân hàng cung cấp cho các tổ chức, doanh nghiệp và các cá nhân trong nền kinh tế.