chương I Trong chương đầu tiên, nhóm nghiên cứu đã xác định được lý do chọn đề tài; đặt ra mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu; đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Bên cạnh đó, nhóm đã khái quát phương pháp nghiên cứu; ý nghĩa và giới thiệu cấu trúc cơ bản của bài nghiên cứu. Từ đây, giúp nhóm tác giả hiểu rõ hơn về mục tiêu, hướng đi của công trình nghiên cứu. 11 CHƯƠNG II.
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Youtube YouTube là một nền tảng chia sẻ video trực tuyến của Mỹ có trụ sở chính tại San Bruno, California. Nền tảng này được tạo ra vào tháng 2 năm 2005 bởi ba nhân viên cũ của PayPal — Chad Hurley, Steve Chen và Jawed Karim — đã được Google mua lại vào tháng 11 năm 2006 với giá 1,65 tỷ đô la Mỹ và hiện hoạt động như một trong những công ty con của Google. YouTube là trang web được truy cập nhiều thứ hai sau Google Tìm kiếm, theo xếp hạng của Alexa Internet.
Trang web cho phép người dùng tải lên, xem, chia sẻ, thêm vào danh sách phát, báo cáo và nhận xét về video, đăng ký người dùng khác và sử dụng công nghệ WebM, H.264/MPEG-4 AVC và Adobe Flash Player để hiển thị nhiều video đa phương tiện do người dùng và doanh nghiệp tạo ra. Nội dung có sẵn bao gồm video clip, đoạn chương trình truyền hình, video âm nhạc, phim tài liệu ngắn và tài liệu, bản ghi âm, đoạn giới thiệu phim và các nội dung khác như viết blog bằng video, video sáng tạo ngắn và video giáo dục. Sinh viên Sinh viên là người học tập tại các trường đại học, cao đẳng, trung cấp. Ở đó họ được truyền đạt kiến thức bài bản về một ngành nghề, chuẩn bị cho công việc sau này của họ.
Họ được xã hội công nhận qua những bằng cấp đạt được trong quá trình học. Sinh viên chủ yếu là những người đăng ký vào trường hoặc cơ sở giáo dục khác tham gia các lớp học trong khóa học để đạt được mức độ thành thạo môn học theo hướng dẫn của người hướng dẫn, và dành thời gian bên ngoài lớp để thực hiện bất kỳ hoạt động nào mà giảng viên chỉ định là cần thiết cho việc chuẩn bị lớp học hoặc để gửi bằng chứng về sự tiến bộ đối với sự thành thạo đó. Theo nghĩa rộng hơn, sinh viên là bất kỳ ai đăng ký chính mình để được tham gia các khóa học trí tuệ chuyên sâu với một số chủ đề cần thiết để làm chủ nó như là một phần của một số vấn đề ngoài thực tế trong đó việc làm chủ các kiến thức như vậy đóng vai trò cơ bản hoặc quyết định. Khởi nghiệp Khởi nghiệp tức là bạn đã ấp ủ một công việc kinh doanh riêng, thường thì bạn sẽ thành lập một doanh nghiệp mà tại đó bạn là người quản lý, là người sáng lập hoặc đồng sáng lập.
Việc cung cấp những sản phẩm mới, dịch vụ mới hay thậm chí kinh doanh những mặt hàng đã có mặt trên thị trường nhưng theo ý tưởng có riêng mình. đều được gọi là khởi nghiệp. Khởi nghiệp có thể là quá trình tạo ra một lĩnh vực hoạt động mới cho riêng mình. Qua đó bạn có thể thuê các nhân viên về làm việc cho bạn và bạn là người quản lý công ty, doanh nghiệp của mình.
Khởi nghiệp mang lại rất nhiều giá trị cho bản thân cũng như nhiều lợi ích cho xã hội, cho người lao động. 12 Đối với cá nhân theo đuổi việc khởi nghiệp, hoạt động này giúp họ tạo ra công việc, thu nhập cho chính mình mà không phải bắt đầu từ việc đi làm thuê. Họ được tự do trong công việc, và nếu công ty của họ phát triển tốt thì nguồn thu nhập của họ có thể cao gấp nhiều lần so với thu nhập do đi làm thuê mang lại. Đối với xã hội và nền kinh tế thì các công ty khởi nghiệp tạo ra thêm nhiều công ăn việc làm.
Điều này giúp đất nước giải quyết tình trạng thất nghiệp, tạo ra nguồn thu nhập cho người lao động nuôi sống bản thân và gia đình. Bằng việc tạo ra lượng lớn công ăn việc làm cho người lao động, giữ tỷ lệ thất nghiệp của nền kinh tế ở mức an toàn, khởi nghiệp thành công gián tiếp góp phần ổn định xã hội, giảm thiểu các tệ nạn xã hội do thất nghiệp gây ra như trộm cắp, bài bạc, đua xe, ma túy. Khởi nghiệp cũng góp phần giảm áp lực lên nền kinh tế, trợ cấp xã hội, đưa đất nước ngày càng phát triển. Tổng quan lý thuyết nền tảng 2.
Thuyết hành vi dự định TBP Theo thuyết hành vi dự định của Ajzen (1991), tác giả cho rằng ý định thực hiện hành vi sẽ chịu ảnh hưởng bởi ba nhân tố như thái độ đối với hành vi, tiêu chuẩn chủ quan và nhận thức về kiểm soát hành vi. Thuyết hành vi dự định (TPB) được phát triển từ lý thuyết hành vi hợp lý (Ajzen và Fishbein, 1975), lí thuyết này được tạo ra do sự hạn chế của lý thuyết trước về việc cho rằng hành vi của con người là hoàn toàn do kiểm soát lý trí. Tương tự như lý thuyết TRA, nhân tố trung tâm trong lý thuyết hành vi có kế hoạch là ý định của cá nhân trong việc thực hiện một hành vi nhất định. Ba yếu tố quyết định cơ bản trong lý thuyết này là: Thứ nhất, yếu tố cá nhân là thái độ cá nhân đối với hành vi về việc tích cực hay tiêu cực của việc thực hiện hành vi.
Thứ hai, về ý định nhận thức áp lực xã hội của người đó, vì nó đối phó với nhận thức của áp lực hay sự bắt buộc có tính quy tắc nên được gọi là chuẩn chủ quan; và thứ ba là yếu tố quyết định về sự tự nhận thức hoặc khả năng thực hiện hành vi, được gọi là kiểm soát nhận thức hành vi (Ajzen, 2005). Lý thuyết cho thấy tầm quan trọng của thái độ đối với hành vi, chuẩn chủ quan và kiểm soát nhận thức hành vi dẫn đến sự hình thành của một ý định hành vi. Mô hình lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) (Ajzen, 1991) được thể hiện qua bảng dưới đây: 13 Thái độ đối với hành vi Tiêu Ý định Hành chuẩn hành vi vi chủ quan Nhận thức đối với hành vi Hình 2. Mô hình lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) (Ajzen 1991) 2.
Mô hình sự kiện khởi nghiệp (Krueger và cộng sự, 2000) Mô hình sự kiện khởi nghiệp (Event Entrepreneur Model – EEM) là lý thuyết về sự kiện khởi nghiệp mà Krueger và cộng sự (2000) đã phát triển dựa vào mô hình EEM của Shapero và Sokol (1982) và điều chỉnh lại bằng việc đưa ra ba yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp, đó là: một là Mong muốn khởi nghiệp; hai là Cảm nhận về tính khả thi; ba là Khuynh hướng hành động. Ý định là một yếu tố dự báo trước và có ý nghĩa về hành vi khởi nghiệp của một người. Về cơ bản, mô hình không có sự thay đổi nhiều so với mô hình cũ, xu hướng hành động được thay thế cho biến thay đổi trong cuộc sống ở mô hình của Shapero và Sokol (1982). Tình hình nghiên cứu 2.
Nghiên cứu trong nước 1) Võ Văn Hiền, Lê Hoàng Vân Trang (2020), Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Trường Đại học Tiền Giang. Mục tiêu của bài nghiên cứu này là nhằm xác định và đánh giá mức độ tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Trường Đại học Tiền Giang. Nhóm tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính nhằm điều chỉnh mô hình và thang đo sơ bộ, hình thành mô hình và thang đo nghiên cứu chính thức. Phương pháp nghiên cứu định lượng được tiến hành để kiểm định độ tin cậy thang đo và đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến ý định khởi nghiệp thông qua mô hình hồi quy tuyến tính đa biến.
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng có 5 nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên, sắp xếp theo mức độ ảnh hưởng giảm dần là: (1) Đặc điểm tính cách, (2) Giáo dục khởi nghiệp, (3) Kinh nghiệm, (4) Nhận thức kiểm soát hành vi và (5) Quy chuẩn chủ quan. Dựa trên kết quả nghiên cứu, một số hàm ý quản 14 trị liên quan đến 5 nhân tố ảnh hưởng cũng được đưa ra nhằm nâng cao ý định khởi nghiệp của sinh viên nhà trường, đồng thời đề xuất hướng nghiên cứu cho tương lai. Nghiên cứu này được thể hiện qua mô hình sau: Hình 2. Mô hình nghiên cứu Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Trường Đại học Tiền Giang.
Điểm hạn chế của nghiên cứu này là chỉ thực hiện khảo sát trên đối tượng là sinh viên năm cuối mà bỏ qua các đối tượng sinh viên năm nhất hay năm hai, năm ba. Trong tương lai các đề tài nghiên cứu tiếp theo cần mở rộng khảo sát thêm trên các đối tượng sinh viên này để có sự so sánh, đánh giá khách quan hơn về ý định khởi nghiệp. Thêm vào đó, các biến độc lập trong mô hình nghiên cứu chỉ giải thích được 55.1% sự biến thiên của biến phụ thuộc. Điều này có nghĩa mặc dù mô hình nghiên cứu là phù hợp nhưng vẫn còn 44.9% thuộc về các nhân tố khác chưa được đề cập trong mô hình, chẳng hạn như chính sách địa phương.
Nguyễn Thị Bích Liên (2020) trong đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên: Nghiên cứu trường hợp sinh viên trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh” Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh, từ đó đề xuất các hàm ý chính sách nhằm thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên. Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính sử dụng kỹ thuật thảo luận nhóm tập trung với sự tham gia của 2 nhóm (1 nhóm cựu sinh viên đã khởi nghiệp năm đầu sau khi tốt nghiệp; 1 nhóm sinh viên năm cuối có ý định khởi nghiệp kinh doanh, mỗi nhóm 10 người), nhằm thẩm định mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên được đề xuất trong hình 1 và thang đo các yếu tố này. Sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng để đánh giá độ tin cậy và giá trị của thang đo 15 các khái niệm nghiên cứu; kiểm định mô hình nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu; kiểm định sự khác biệt về mức độ ảnh hưởng của các yếu tố theo các đặc điểm nhân khẩu học của sinh viên.