CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. Lý do chọn đề tài Trong bối cảnh kinh tế hội nhập và xã hội phát triển, cho thấy động lực làm việc có sức ảnh hưởng mạnh trong quá trình lao động của mỗi cá nhân trong một tổ chức nói chung. Bởi động lực làm việc thể hiện sự sinh tồn và phát triển của tổ chức, là nhân tố kích thích con người nỗ lực làm việc tạo ra năng suất, hiệu quả, thúc đẩy cá nhân phát huy sức mạnh tiềm ẩn, vượt qua thử thách để hoàn thành công việc một cách tốt nhất. Người lao động khi có động lực làm việc thường có tinh thần thoải mái và say mê với công việc, luôn thể hiện tính sáng tạo và giúp tổ chức có nhiều ý tưởng mới.
Theo Blumber & Pringle (1982), Carter & Shelton (2009) cho rằng để có được hiệu quả làm việc cần có 3 yếu tố: năng lực của bản thân, nguồn lực và động lực làm việc. Nếu thiếu một trong 3 yếu tố này thì sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả làm việc của cá nhân và tập thể. Công thức của Carter & Shelton (2009) cho thấy tầm quan trọng của động lực làm việc đối với kết quả làm việc của mỗi cá nhân trong tổ chức và ảnh hưởng đến hiệu suất làm việc của cả tổ chức đó. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng một người có động lực làm việc cao có thể đạt hiệu suất làm việc như mong đợi dù họ hạn chế về kiến thức, kỹ năng.Stiglitz, giáo sư trường đại học Colombia, một tổ chức được xếp vào khu vực công khi có hai đặc điểm: các hoạt động của khu vực công phải phục vụ cho đại đa số lợi ích của cộng đồng, hay có thể hiểu khu vực công là khu vực phi lợi nhuận và các đơn vị trong khu vực được giao một số quyền hạn nhất định có tính bắt buộc, cưỡng chế mà các cơ quan khu vực tư nhân không thể có được.
Hoạt động thuộc khu vực này được khái quát thành hai hệ thống: các cơ quan công quyền và các đơn vị kinh tế. Tại khu vực công, tổ chức hoạt động theo nguyên tắc, cơ chế, chính sách chung do nhà nước quy định, với sứ mệnh phục vụ cộng đồng, cung cấp các dịch vụ công tốt nhất phục vụ xã hội, là nơi thực thi quyền lực nhà nước, là bộ phận không thể thiếu trong một quốc gia. Khu vực này giữ vị trí chủ 2 đạo trong nền kinh tế, là tác nhân chính cho sự phát triển và đi đầu trong việc hoạch định, thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế, chính trị, xã hội. Như vậy, có thể nói khu vực công bao gồm tất cả các hoạt động vì lợi ích chung của cộng đồng và vì phúc lợi của cả quốc gia.
Với các đặc thù khu vực như trên, sự khác biệt về chất lượng và dịch vụ trong khu vực công được quyết định bởi những người thực thi quyền lực của nhà nước, đó chính là lực lượng công chức, viên chức. Bởi nguồn lực này là giá trị cốt lõi của các tổ chức trong khu vực công, là nguồn gốc để vận hành bộ máy nhà nước và tạo ra những giá trị cho xã hội. Có thể nói, hiệu quả hoạt động của một thể chế hành chính quốc gia là do lực lượng công chức này mang lại. Và hiệu quả làm việc của đội ngũ này chỉ đạt được khi họ có động lực làm việc.
Đặc biệt, nước ta đang trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, hội nhập và phát triển một cách nhanh chóng như hiện nay, điều này làm ảnh hưởng rất lớn đến động lực làm việc của công chức nhà nước. Để có thể xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội, cùng với công cuộc cải cách hành chính, nhằm đạt được tiêu chí xã hội phát triển, văn minh, công bằng, dân chủ, phục vụ cho lợi ích của nhân dân, nâng cao dân trí, thì nhất thiết phải coi trọng việc nâng cao chất lượng mọi mặt của đội ngũ cán bộ công chức, viên chức. Mặc dù mỗi quốc gia có một thể chế chính trị, một mức độ phát triển kinh tế, xã hội khác nhau, song, vấn đề tạo động lực làm việc cho công chức nhà nước vẫn luôn được các nhà quản lý nhân sự quan tâm hàng đầu. Thực tiễn việc quản lý nguồn nhân lực trong khu vực công ở nước ta đang bộc lộ rất nhiều khó khăn và bất cập cần được quan tâm, nghiên cứu và đưa ra giải pháp khắc phục.
Hiện thực cho thấy, nguồn nhân lực khu vực công thường chậm đổi mới hơn khu vực ngoài nhà nước do những rào cản và áp lực không đủ mạnh so với khu vực tư để buộc phải thay đổi. Mâu thuẫn xảy ra bởi sự cạnh tranh gay gắt tạo ra từ sức hấp dẫn của khu vực tư nhân. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng khu vực tư nhân có nhiều yếu tố thu hút, hấp dẫn người lao động hơn khu vực công. Cơ chế quản lý nhân sự, tạo động lực làm việc cho người lao động khu vực tư nhân luôn linh hoạt, hiệu quả hơn khu vực nhà nước.
Vì vậy, khu vực tư nhân đã và đang trở 3 thành mối lo lắng của các nhà quản lý nhân sự khu vực công khi lực lượng lao động bị thu hút bởi khu vực này, dẫn đến nạn chảy máu nhân sự tại khu vực công, làm ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả, động lực làm việc cho công chức ở các cơ quan hành chính nhà nước. Với sự phát triển bùng nổ của nền kinh tế - xã hội, khu vực tư nhân đang chạy đua khốc liệt về chất lượng, dịch vụ, giá trị thặng dư giữa các doanh nghiệp cũng như các tổ chức nước ngoài đầu tư vào Việt Nam. Do đó khu vực công chịu rất nhiều sức ép để có thể đáp ứng được nhu cầu của xã hội cũng như mục tiêu phát triển nền kinh tế. Với thực trạng những quy định, chính sách quản lý chưa hoàn thiện như hiện nay làm cho đội ngũ công chức hoạt động một cách trì trệ và phát sinh nhiều tiêu cực, dẫn đến chưa phát huy được giá trị thực sự mà nguồn lực này cần mang lại cho tổ chức và xã hội.
Trước đây, hầu hết các công chức làm việc trong cơ quan hành chính nhà nước đều trung thành với lý tưởng cao đẹp của Đảng và Nhà nước, động lực làm việc của họ xuất phát từ lợi ích chung, lợi ích cá nhân được dung hòa trong lợi ích của tập thể. Nhưng hiện nay, do mặt trái của nền kinh tế thị trường, chủ nghĩa cá nhân có cơ hội phát triển và xuất hiện những toan tính, vụ lợi, hẹp hòi, những động cơ làm việc trong sáng dần bị thay thế, từ đó động lực làm việc cũng bị giảm sút một cách đáng lo ngại. Các cơ quan hành hành chính nhà nước đã và đang đối mặt với sự xuống cấp về đạo đức công vụ, động lực làm việc giảm sút mạnh ở một bộ phận không nhỏ công chức tại khu vực công. Không ít công chức bị rơi vào vòng xoáy vật chất của nền kinh tế thị trường, dẫn đến lệ thuộc vào vật chất, xa rời những giá trị tốt đẹp, lý tưởng và niềm tin khi được phục vụ cộng đồng ở khu vực nhà nước.
Điển hình như nhiều vụ tham ô, tham nhũng, nhũng nhiễu nhân dân, lợi dụng quyền hạn để trục lợi. Một bộ phận công chức khác thì thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm với công việc và tập thể, không có động lực làm việc, làm ảnh hưởng rất lớn đến hiệu suất chung của tổ chức. Từ những thực trạng chung trong khu vực công như hiện nay đã có nhiều nghiên cứu trong nước được tiến hành và đưa ra các giải pháp, chính sách được áp dụng để khắc phục. Song, đa phần các chính sách, biện pháp đều mang tính rời rạc 4 thiếu đồng bộ, kết quả thu được chưa cao, không đem lại hiệu quả như mong đợi.
Do đó, thể chế hành chính nhà nước, hiệu quả làm việc hay nói cách khác động lực làm việc của công chức trong khu vực công chưa được cải thiện, hoạt động quản lý tổ chức ở các cơ quan nhà nước vẫn còn yếu kém. Long Khánh là một thành phố trực thuộc tỉnh Đồng Nai, hiện nay với 731 công chức đang làm việc tại các cơ quan, đơn vị hành chính. Do là thành phố mới nên khối lượng và tính chất công việc đòi hỏi ngày càng cao, đội ngũ công chức tại thành phố đang chịu áp lực công việc rất lớn. Mặc dù chất lượng dịch vụ công tại thành phố Long Khánh đã được cải thiện nhiều so với trước đây, song, nhìn chung vẫn bị tụt hậu và chậm phát triển hơn so với khu vực tư nhân và khu vực công tại những địa phương khác, chưa đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của đời sống xã hội.
Bên cạnh đó, một bộ phận công chức chưa thực sự phát huy hết năng lực, không có sự cố gắng, nỗ lực trong công việc, làm việc với thái độ lơ là, không chú tâm đến công việc cũng như kết quả làm việc. Mặt khác, người lao động, nhất là những lao động chất lượng cao tại thành phố Long Khánh đang bị thu hút bởi những quyền và lợi ích của khu vực tư nhân mang lại. Là một công chức đang công tác tại thành phố Long Khánh, em nhận thấy động lực làm việc đối với cá nhân, tổ chức, đặc biệt với các cơ quan hành chính, sự nghiệp nhà nước là vô cùng quan trọng. Đội ngũ cán bộ công chức với chất lượng và hiệu quả công việc kém chính là do động lực làm việc của họ đang bị giảm sút nghiêm trọng.
Các thực trạng trên làm ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng và số lượng cán bộ công chức trong khu vực. Do đó hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước tại thành phố Long Khánh bị ảnh hưởng rất lớn, trong bối cảnh kinh tế xã hội đang phát triển mạnh mẽ như hiện nay, càng tạo ra nhiều áp lực lớn cho các cơ quan quản lý nhà nước. Để giải quyết vấn đề này trước hết cần có biện pháp làm tăng động lực làm việc của đội ngũ công chức và cũng cần hiểu rõ những yếu tố nào ảnh hưởng tới động lực làm việc của họ. Từ đó đưa ra các đề xuất, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công việc hay nâng cao động lực làm việc cho công chức nhà nước tại địa phương.
Vì lý do đó, 5 em chọn đề tài “ Các yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của công chức nhà nước tại thành phố Long Khánh tỉnh Đồng Nai”.