CHƯƠNG 1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. Tình hình nghiên cứu 1.1 Tình hình nghiên cứu về kết cấu gây khiến trong tiếng Anh, tiếng Việt 1. Tình hình nghiên cứu về kết cấu gây khiến trong tiếng Anh « Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về KCGK trong các ngôn ngữ nói chung và trong tiếng Anh nói riêng.
Xét theo sự khác biệt về cách tiếp cận, có thể thấy các công trình trên nghiên cứu theo 3 hướng chủ yếu: (a) theo hướng Ngữ nghĩa học cú pháp, (b) theo hướng Ngữ pháp chức năng (c) theo hướng Loại hình học và nghiên cứu đối chiếu. 1) Nghiên cứu theo hướng Ngữ nghĩa học cú pháp « Với lịch sử phát triển từ những năm 20 của thế kỷ XX, Ngữ nghĩa học cú pháp là một hướng tiếp cận của khá nhiều nhà phân tích ngôn ngữ bởi vì đặc trưng của hướng tiếp cận này là có sự xích lại gần nhau của Ngữ nghĩa học và Logic học. Sự tiến bộ của Logic học trong những năm đầu thế kỷ 20 đã ảnh hưởng đến tư tưởng của các nhà ngôn ngữ học. Có lẽ người đầu tiên nghiên cứu về quan hệ logic giữa hai sự tình của mối quan hệ nhân quả là Mill (1960) trong cuốn System of Logic khi cho rằng sự tình B xảy ra sau là hệ quả của sự tình A xảy ra trước và ngược lại, sự tình A xảy ra trước là nguyên nhân của sự tình B xảy ra sau.
Ngoài ra, tính logic trong quan hệ nguyên nhân – kết quả còn được thể hiện ở câu điều kiện nếu ….thì : Nếu X không xảy ra thì Y không xảy ra. Mối quan hệ về thời gian giữa hai sự tình làm nên tính logic của KCGK. Về vấn đề này nhà ngôn 10 ngữ học Shibatani (1976) đã mô tả tình huống nhân - quả như một mối quan hệ giữa hai sự tình. Theo đó, hai sự tình gây khiến và kết quả được cho là của một KCGK khi thỏa mãn đồng thời hai điều kiện sau: 1.
Người nói tin rằng thời điểm xảy ra sự tình kết quả (t2) sau thời điểm của sự tình gây khiến (t1); 2. Người nói tin rằng sự tình kết quả (sự tình 2) phụ thuộc hoàn toàn vào sự tình gây khiến (sự tình 1). Mức độ phụ thuộc này phải đạt đến mức nếu sự tình gây khiến không xảy ra thì sự tình kết quả cũng không xảy ra. Ví dụ : I told John to go hoặc I caused John to go.
(Shibatani, 1976 : 3) Câu trước không phải KCGK vì chỉ thỏa mãn điều kiện 1, nhưng với điều kiện 2, người nói không thể đảm bảo chắc chắn rằng sau khi mình nói thì John sẽ đi. Ở câu sau, cả hai điều kiện được thỏa mãn: - t1 – I caused John xảy ra trước, t2 – John to go xảy ra sau, - sự tình 2 chắc chắn và chỉ xảy ra sau khi sự tình 1 xảy ra. Với ý nghĩa này, ta có thể sử dụng liên từ because để nói lại câu mà nghĩa câu không đổi Because I did something to John, he went. (Vì tôi tác động, nên John mới đi) Như vậy, theo cách tiếp cận logic, hai sự tình gây khiến và kết quả có quan hệ mật thiết với nhau, liên quan chặt chẽ với nhau, sự tình kết quả có được là do sự tình gây khiến tác động.
Nói cách khác, nếu không có tác động của sự tình gây khiến thì không có kết quả nào xảy ra. Đó chính là tính logic của KCGK. Theo hướng Ngữ nghĩa học, tác phẩm Semantic Structures (Cấu trúc ngữ nghĩa) Jackendoff (1995) đã đề xuất cách phân tích của mình về nguyên nhân trong KCGK. Cùng để diễn tả hướng hành động, Jackendoff đã sử dụng chức năng ngữ nghĩa AFF (affect – tác động).
AFF có hai hướng điển hình: hướng thứ nhất tương ứng với lời nói, hành động của người hành động (The antagonist) và hướng thứ hai tương ứng với người tiếp nhận hành động (The agonist). Ray Jackendoff giả sử rằng cặp nội lực 11 - kháng lực (agonist - antagonist) có thể được xem như là cặp bị thể - tác thể (patient - agent) trong đó nội lực (agonist) là bị thể (patient) và kháng lực (antagonist) là tác thể (agent). Jackendoff cũng đã giới thiệu một chức năng CS mới, chức năng bao gồm một ‘thông số thành công’. CS+ là kết quả thành công, CS- là kết quả không thành công, Qua đó, ví dụ Harry forced Sam to go của Talmy (1988) trước đây được Jackendoff (1995) phân tích như sau: Ví dụ của Talmy : theo cách phân tích của Jackendoff : (Talmy, 1988) (Jackendoff, 1995:130) « Dễ thấy, cách trình bày mối quan hệ nhân quả theo hướng logic của Mill và Shibatani khá đơn giản, dễ hiểu và do đó thành công hơn hẳn của Jackendoff bởi thực chất hai tác giả Mill và Shibatani đều trình bày mối quan hệ nhân quả theo logic về thời gian và sự phụ thuộc lẫn nhau của hai sự tình.
Trong khi đó, Jackendoff trình bày mặc dù khá chi tiết nhưng lại dẫn đến lòng vòng. Rõ ràng là thuật ngữ CS+ khó hiểu hơn cause mà nó thay thế. Goddard (1997) cho rằng Jackendoff đã không thành công trong việc giải thích quan hệ nhân quả theo Ngữ nghĩa học vì cách phân tích chưa thể hiện được đầy đủ các khía cạnh của ngôn ngữ trong đời sống xã hội con người thường dùng. 2) Nghiên cứu theo hướng Ngữ pháp chức năng Theo hướng này, Halliday (1994) dẫn dắt người đọc từ những khái niệm như nội hướng/ngoại hướng, khiến tác/phi khiến tác, dung môi, tác nhân và cuối cùng ý nghĩa gây khiến được hình thành nên từ một cấu trúc khiến tác mở.
12 Halliday cho rằng cả sáu quá trình (vật chất, hành vi, tinh thần, phát ngôn, quan hệ, hiện hữu) mặc dù có ngữ pháp riêng của chúng nhưng thực chất chúng lại giống nhau vì được cơ cấu theo cùng cách trên cơ sở của chỉ một tham biến. Tham biến này có liên hệ với cội nguồn của quả trình (quá trình mang lại là từ bên trong hay bên ngoài) tạo nên quá trình khiến tác và phi khiến tác. Điều này hoàn toàn khác về cách phân biệt giữa nội hướng và ngoại hướng. Cách phân tích nội hướng và ngoại hướng đề cập đến việc quá trình của hành thể có được mở rộng sang một thực thể khác hay không.
Câu the tourist ran với hành thể là the tourist được coi là nội hướng nếu hành thể dừng lại ở việc chạy. Nhưng câu the tourist chased the deer lại được coi là ngoại hướng vì quá trình đuổi của hành thể đã được mở rộng ra một thực thể khác – con hươu. Cách phân tích quá trình khiến tác/phi khiến tác liên quan đến việc một tham thể nào đó tham gia vào quá trình. Ở góc độ này câu the lion chased the tourist không có quan hệ nhiều với the lion ran bằng the tourist ran (người khách du lịch chạy).
Thuật ngữ nội hướng và ngoại hướng ở đây không còn phù hợp nữa vì chúng chỉ hàm ý mở rộng. Hai cú the lion chased the tourist/the tourist ran bây giờ tạo thành cặp khiến tác/phi khiến tác (ergative/ non-ergative) (2004:288) Một thành phần không thể thiếu được trong mọi quá trình là dung môi (medium) theo cách dịch của Hoàng Văn Vân (2004) – một thực thể mà thông qua nó, quá trình được thực hiện. Trong một quá trình vật chất the boat sailed, dung môi là the boat - hành thể trong cú nội hướng trong câu. Ở góc độ khiến tác này, dung môi là tham thể mấu chốt, tác nhân - kẻ gây ra hành động là một đối tượng bên ngoài.
» « Ý nghĩa gây khiến lại được nhận ra từ quan điểm chuyển tác. Trong những cấu trúc khởi thể có một đặc điểm gây khiến được thêm vào. Xét hai ví dụ sau : (1) The police exploded the bomb. (cảnh sát kích nổ trái bom) (2) The lion chased the tourist.
(sư tử đuổi khách du lịch) Nếu xét từ góc độ khiến tác, không có sự khác nhau nào giữa hai cú trên bởi the police và the lion đều là tác nhân và the tourist và the bomb đều là dung môi. Nhưng nếu xét từ góc độ chuyển tác, hai cú trên xuất hiện với những « hình thể » 13 khác nhau. The police lúc này đóng vai trò là khởi thể còn the lion là hành thể. Cú thứ nhất có thể được phân tích thành the police exploded the bomb, the bomb exploded.
Như vậy, vai nghĩa của the bomb đã thay đổi từ đích thể sang hành thể và the police từ hành thể chuyển thành khởi thể. Cú thứ hai không thể phân tích theo lối trên được. Như vậy, những cú nào mà vai nghĩa thay đổi để xuất hiện khởi thể (trong quá trình vật chất) hoặc tạo huộc tính thể (trong quá trình tinh thần), khi đó ý nghĩa gây khiến xuất hiện. Ý nghĩa gây khiến theo quan điểm khiến tác, cú the bomb exploded chỉ thuần túy bổ sung thêm một đặc điểm tác nhân.
Như vậy, cú gây khiến được hình thành nên từ một cấu trúc khiến tác mở. Ví dụ : » (3) The ball rolled Fred rolled the ball Mary made Fred roll the ball John got Mary to make Fred roll the ball. (Quả bóng lăn Fred lăn quả bóng Mary khiến Fred lăn quả bóng John làm cho Mary khiến Fred lăn quả bóng) 3) Nghiên cứu theo hướng Loại hình học và so sánh đối chiếu Có nhiều tác giả và nhiều công trình nghiên cứu KCGK từ góc độ LHH ngôn ngữ, trong đó nổi bật là hai học giả nổi tiếng Comrie và Song. Hai ông đã có cái nhìn khá sâu sắc và chi tiết về vấn đề theo hướng này.
Comrie (1976, 1989, 2000) tập trung vào loại hình học cú pháp và ngữ nghĩa của các KCGK. Điều quan trọng trong nghiên cứu của mình là ông đã phân biệt giữa mã hóa ngôn ngữ của các mối quan hệ nhân quả và các yếu tố ngoài ngôn ngữ khác như bản chất của mối quan hệ nhân quả và về cách con người nhận thức về các mối quan hệ nhân quả đó như thế nào. Comrie đã mô tả sự tình gây khiến – kết quả dưới dạng hai (hoặc nhiều) sự tình vi mô và được mã hóa trong một biểu thức duy nhất. Về mặt hình thức, ông phân loại nguyên nhân thành 3 loại : gây khiến từ vựng (lexixal causatives), gây khiến hình thái (morphological causatives) và gây khiến phân tích (analytic causatives).
Với công trình A Universal - Typological Perspective của tác giả nổi tiếng Song (1996), ông cũng đi theo hướng loại hình học để phân tích KCGK. Nguồn ngữ 14 liệu mà ông có được xuất phát từ nhiều ngôn ngữ trên thế giới.