CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HÀNG HÓA LUÂN CHUYỂN VÀ CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM TIỀN VAY BẰNG HÀNG HÓA LUÂN CHUYỂN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Tổng quan về hàng hóa luân chuyển 1.1 Khái niệm hàng hóa luân chuyển Hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất, kinh doanh (sau đây gọi tắt là “hàng hóa luân chuyển”) là một thuật ngữ được cấu tạo từ sự kết hợp thuật ngữ hàng hóa và thuật ngữ luân chuyển. Thuật ngữ hàng hóa được từ điển tiếng Việt định nghĩa như sau “là sản phẩm do lao động làm ra, được mua bán trên thị trường”1 hay “là vật phẩm được trao đổi để thỏa mãn nhu cầu của con người”2. Như vậy, có thể khẳng định hàng hóa là sản phẩm không tự nhiên mà có. Hàng hóa được hình thành là kết quả từ quá trình lao động của con người, thông qua trao đổi mua bán mà con người thỏa mãn những nhu cầu để có được nó.
Hàng hóa có hai thuộc tính cơ bản là: giá trị và giá trị sử dụng. Giá trị của hàng hóa là lao động xã hội của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa, có sự chi phí về thời gian, sức lực và trí tuệ của con người. Giá trị sử dụng của hàng hóa là công dụng hữu ích của hàng hóa thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người. Một loại hàng hóa có thể có một công dụng hay nhiều công dụng khác nhau.
Từ các định nghĩa về hàng hóa nêu trên, ta có thể kết luận hàng hóa mà ngân hàng nhận làm tài sản bảo đảm là những nguyên vật liệu, thành phẩm, sản phẩm dở dang thuộc ngành nghề kinh doanh của khách hàng do khách hàng mua về hoặc tự sản xuất ra. Thuật ngữ “luân chuyển” được định nghĩa trong từ điển tiếng Việt là “lần lượt nối tiếp hay chuyển cho nhau để cuối cùng quay trở lại thành một hay nhiều vòng”3, hay “là lần lượt trao từ người này sang người khác, từ chỗ này sang chỗ 1 Viện ngôn ngữ học (2002), Từ điển tiếng việt phổ thông, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, trang 372. 2 Nguyễn Lân (2000), Từ điển từ và ngữ Việt Nam, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, trang 799. 3 Viện ngôn ngữ học (2002), Từ điển tiếng việt phổ thông, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, trang 528.
Như vậy, có thể hiểu rằng luân chuyển là sự thay đổi, không có sự cố định mà có sự dịch chuyển một cách luân phiên. Kết hợp cách hiểu của hai thuật ngữ “hàng hóa” và “luân chuyển”, chúng ta có thể định nghĩa hàng hóa luân chuyển là những hàng hóa thành phẩm, sản phẩm dở dang, nguyên liệu, vật liệu và các động sản khác dùng để trao đổi, mua bán, cho thuê trong phạm vi hoạt động sản xuất, kinh doanh. Mặc khác, do có tính chất “luân chuyển” nên những hàng hóa này sẽ được tham gia vào quá trình lưu thông buôn bán, cho thuê…. Khái niệm hàng hóa luân chuyển đã được đề cập tại các quy định như sau: Tại Bộ luật thương mại thống nhất Hoa Kỳ (Uniform Commercial Code - UCC) quy định hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất kinh doanh (inventory) là hàng hoá, hơn nữa là sản phẩm nông nghiệp mà: - Được thuê bởi một người là bên cho thuê; - Được sở hữu bởi một người để bán hoặc cho thuê hoặc được cung cấp theo hợp đồng dịch vụ; - Được cung cấp bởi một người theo hợp đồng dịch vụ; hoặc - Bao gồm nguyên vật liệu, bán thành phẩm, hoặc các sản phẩm được sử dụng hoặc tiêu thụ trên thị trường5.
Tại Việt Nam, các văn bản pháp luật quy định về hàng hóa luân chuyển có sự thay đổi theo từng thời kỳ. Khoản 8 Điều 2 Nghị định 165/1999/NĐ-CP ngày 19/11/1999 về giao dịch bảo đảm định nghĩa “Hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất kinh doanh gồm máy móc, thiết bị, nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu, hàng tiêu dùng, các động sản khác hoặc các bất động sản dùng để trao đổi, mua bán gắn với chức năng sản xuất, kinh doanh của bên bảo đảm”. Như vậy, theo cách hiểu Nghị định 165/1999/NĐ-CP thì hàng hóa luân chuyển không chỉ là động sản bao gồm: máy móc, thiết bị, nguyên liệu, vật liệu, hàng tiêu dùng, các động sản khác mà còn là bất 4 Nguyễn Lân (2000), Từ điển từ và ngữ Việt Nam, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, trang 1094. 5 Quyển 9 Bộ luật thương mại thống nhất Hoa Kỳ.
10 động sản và tất cả phải tham gia vào quá trình lưu thông dân sự như trao đổi, mua bán gắn liền với chức năng sản xuất, kinh doanh của bên bảo đảm. Tuy nhiên, tại Khoản 8 Điều 3 Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 về giao dịch bảo đảm định nghĩa về hàng hóa luân chuyển đã được thay đổi theo hướng tiếp cận định nghĩa của UCC như sau: “Hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất, kinh doanh là động sản dùng để trao đổi, mua bán, cho thuê trong phạm vi hoạt động sản xuất, kinh doanh của bên bảo đảm”. Như vậy, Nghị định 163/2006/NĐ-CP đã định nghĩa “hàng hóa luân chuyển” khác với định nghĩa “hàng hóa luân chuyển” của Nghị định 165/1999/NĐ-CP ở chỗ bất động sản không được xem là hàng hóa luân chuyển. Từ khái niệm tại Nghị định 163/2006/NĐ-CP, ta thấy hàng hóa luân chuyển là động sản dùng để trao đổi, mua bán, cho thuê trong quá trình sản xuất, kinh doanh của bên bảo đảm sẽ không bao gồm: Một là, hàng hóa luân chuyển không bao gồm bất động sản.
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 174 của Bộ luật dân sự năm 2005 đưa ra khái niệm về bất động sản là các tài sản bao gồm: đất đai; nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng đó; các tài sản khác gắn liền với đất đai; các tài sản khác do pháp luật quy định. - Hai là, hàng hóa luân chuyển là động sản - những tài sản không phải là bất động sản6. Tuy nhiên không phải mọi động sản đều được xem là hàng hóa luân chuyển. Ví dụ như trong trường hợp động sản là máy móc thiết bị được sử dụng để phục vụ sản xuất (dây chuyền chế biến bánh kẹo đang được nhà máy sản xuất bánh kẹo để sử dụng)7.
Dự thảo Bộ luật dân sự năm 2005 (sửa đổi) ngày 17/01/2015 (sau đây gọi tắt là “Dự thảo Bộ luật dân sự”) không đề cập đến định nghĩa hàng hóa luân chuyển. Vì vậy, định nghĩa hàng hóa luân chuyển được nghiên cứu dựa trên quy định tại Nghị định 163/2006/NĐ-CP. 6 Khoản 2 Điều 174 Bộ luật dân sự năm 2005. 7 Trung tâm đăng ký giao dịch tài sản tại Thành phố Hồ Chí Minh (2006), Tài liệu tập huấn về giao dịch bảo đảm và đăng ký giao dịch bảo đảm.
11 Thực tế một số ngân hàng thông qua quy định nội bộ, hợp đồng cũng dùng định nghĩa “Hàng hóa luân chuyển” tương đồng với định nghĩa của UCC và Nghị định 163/2006/NĐ-CP. Cụ thể như sau: Điểm a Khoản 1 Điều 2 Hợp đồng thế chấp hàng hóa của Ngân hàng TMCP Nam Việt quy định “Hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất, kinh doanh (bao gồm hàng hóa thành phẩm, sản phẩm dở dang, nguyên liệu, vật liệu và các động sản khác dùng để trao đổi, mua bán, cho thuê trong phạm vi hoạt động sản xuất của bên B) phát sinh/hình thành trước, trong hoặc sau ngày xác lập Hợp đồng thế chấp”8. Khoản 1 Điều 2 Quy định quản lý tài sản bảo đảm là hàng tồn kho của Ngân hàng TMCP Nam Việt quy định như sau “Hàng tồn kho là hàng hóa, nguyên vật liệu, thành phẩm, sản phẩm dở dang thuộc ngành nghề kinh doanh của khách hàng do khách hàng kinh doanh hoặc tự sản xuất”9. Tóm lại, hàng hóa luân chuyển là động sản có thể là thành phẩm, bán thành phẩm, nguyên vật liệu.
Tuy nhiên, các động sản này phải tham gia vào quá trình lưu thông dân sự như mua bán, trao đổi, cho thuê. Đồng thời, các động sản này phải gắn với quá trình hoạt động kinh doanh, sản xuất của bên sở hữu hàng hóa.2 Đặc điểm hàng hóa luân chuyển Từ khái niệm về hàng hóa luân chuyển được nêu ở trên, người thực hiện đề tài rút ra một số đặc điểm về hàng hóa luân chuyển như sau: Thứ nhất, hàng hóa luân chuyển là động sản cho nên hàng hóa luân chuyển sẽ có những đặc điểm của động sản và nó có đặc điểm khác với đặc điểm của bất động sản. Tại Việt Nam thuật ngữ động sản và bất động sản được sử dụng chính thức tại Bộ luật dân sự năm 1995. Điều 181 Bộ luật dân sự năm 1995 cũng như Điều 174 Bộ luật dân sự năm 2005 của Việt Nam chỉ đưa ra định nghĩa động sản và bất động sản theo phương pháp liệt kê và loại trừ - chỉ ra một cách cụ thể rằng, những tài sản 8 Đính kèm tại Phụ lục 03.
9 Điều 2 Quyết định 69/2009/QĐ-TGĐ ngày 24/12/2009 của Tổng Giám đốc Ngân hàng Thương mại cổ phần Nam Việt về việc ban hành quy định quản lý tài sản bảo đảm là hàng tồn kho. 12 nào là bất động sản, còn lại những tài sản khác không là bất động sản thì được gọi là động sản. Khoa học pháp luật dân sự cũng như các văn bản qui phạm pháp luật chỉ đưa ra dưới dạng liệt kê để xác định tài sản là bất động sản hay động sản mà không đưa ra khái niệm tổng quát thế nào động sản và thế nào là bất động sản. Nếu như bất động sản là một thuật ngữ dùng để chỉ đất đai và tất cả những thứ gắn liền với nó như công trình xây dựng, nhà ở…thì động sản là những tài sản không phải là bất động sản.
Từ khái niệm động sản, người thực hiện đề tài rút ra một số đặc điểm động sản như sau: - Một là, động sản thường không có tính cố định như bất động sản. Nếu nhờ tính cố định mà khi nhận bất động sản làm tài sản thế chấp, các ngân hàng dễ dàng thực hiện quá trình xác định, định giá, giám sát trong và sau khi cho vay; cũng không tốn thêm các chi phí liên quan đến việc quản lý tài sản thì hàng hóa luân chuyển không có tính cố định bằng bất động sản nên trong quá trình nhận hàng hóa luân chuyển làm tài sản bảo đảm, bên nhận tài sản bảo đảm rất khó kiểm soát và quản lý bởi tính chất “không cố định” và “luân chuyển” của nó. Hơn nữa, loại tài sản là động sản này có đặc thù là nhu cầu sử dụng cao, dễ mua, bán trao đổi trên thị trường nên ngân hàng cho vay rất khó kiểm soát.