đặt vấn đề quyền sống của con người lên cao nhất, dành nhiều sự quan tâm và bảo hộ nhất. Do đó, khi có hành vi xâm phạm đến quyền được sống của con người, chủ thể đều phải chịu chế tài hình sự rất nghiêm khắc. Bộ luật Hình sự năm 2015 xếp nhóm các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người đứng thứ hai chỉ sau các tội xâm phạm an ninh quốc gia. Đặc biệt, các tội xâm phạm tính mạng con người nói chung luôn được sắp xếp lên hàng đầu (từ Điều 123 đến Điều 133).
Về mặt kỹ thuật lập pháp, điều này cho thấy sự quan tâm và bảo hộ của Nhà nước đối với con người, thể hiện quan điểm của Đảng và Nhà nước trong đấu tranh tội phạm xâm phạm tính mạng con người. Về khái niệm, các tội xâm phạm tính mạng của con người là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, cố ý hoặc vô ý xâm phạm đến tính mạng của người khác5. Về đặc trưng pháp lý, các tội xam phạm tính mạng của con người có các đặc trưng sau: Thứ nhất, về khách thể loại. Quan hệ xã hội bị tội phạm xâm hại đến là quyền sống của con người.
Đây là quyền thiết thân, quyền cơ bản và được bảo hộ một cách tuyệt đối của con người, như đã phân tích ở trên. Đối tượng tác động của tội phạm là con người đang sống. Tức là, tội phạm phải tác động vào con người và còn đang sống. Theo pháp luật hình sự Việt Nam, con người 4 Nguyễn Thanh Tuấn (2019), “Nhận thức của Đảng về quyền con người trong thời kỳ đổi mới”, Tạp chí Cộng sản, [https://www.vn/web/guest/chi-tiet-tim-kiem/-/2018/54585/nhan- thuc-cua-%C4%91ang-ve-quyen-con-nguoi-trong-thoi-ky-%C4%91oi-moi.aspx] (truy cập vào lúc 11.2023) 5 Trường Đại học Luật TP.
Hồng Đức, TP. 8 được tính là bắt đầu sự sống khi được sinh ra và tồn tại độc lập với cơ thể của người mẹ và vẫn phải có dấu hiệu sinh tồn6. Thời điểm kết thúc sự sống là thời điểm xảy ra cái chết sinh học, tức là không còn dấu hiệu sinh tồn. Như vậy, thai nhi và tử thi không được xem là con người đang sống theo quan điểm hình sự Việt Nam.
Thứ hai, biểu hiện khách quan. Xét về cấu thành tội phạm, các tội xâm phạm tính mạng có cấu thành vật chất. Xét về hành vi khách quan, hành vi của các tội xâm phạm tính mạng là nhằm tước đoạt trái pháp luật tính mạng của người khác. Hành vi phạm tội có thể là hành động phạm tội hoặc không hành động phạm tội.
Xét về hậu quả của tội phạm, do các tội xâm phạm tính mạng có cấu thành vật chất nên thiệt hại về tính mạng con người là dấu hiệu bắt buộc. Hậu quả chết người sẽ quy định giai đoạn phạm tội (chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt hay tội phạm hoàn thành). Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả của các tội phạm này thông thường phải qua giám định pháp y mới có thể kết luận được. Thứ ba, biểu hiện chủ quan.
Hình thức lỗi của tội phạm có thể là lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý hoặc cũng có thể là vừa cố ý vừa vô ý. Cuối cùng, về chủ thể. Đa phần chủ thể của các tội phạm là chủ thể thường, tuy nhiên vẫn tồn tại một số chủ thể đặc biệt. Các dấu hiệu của chủ thể đặc biệt thường gắn liền với đặc điểm nhân thân như quan hệ gia đình, nghề nghiệp, công tác… 1.
Các thuật ngữ pháp lý, đặc điểm tội giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ a. Các thuật ngữ pháp lý liên quan đến tội giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ Thứ nhất, về khái niệm về con mới đẻ. Nhìn nhận trên góc độ y học, trẻ sơ sinh (hay con mới đẻ) là thuật ngữ chỉ về một trẻ em được sinh ra trong vòng một giờ, ngày, hoặc một vài tuần nhất định từ khi lọt lòng. Theo thuật ngữ của tiếng Latin thì infantulus (có nghĩa là sơ sinh).
Khi phân tích cụ thể cụm từ trên thì “īnfāns” có nghĩa là “không nói nên lời”, “không thể nói” - Tức là khi nhìn nhận trên góc độ y học, trẻ từ 12 tháng đến 3 tuổi là giai đoạn phát triển mạnh về mặt ngôn ngữ. Từ lúc chỉ biết “ê a”, trẻ dần biết nói các từ đơn, từ đôi, đoạn 4 từ rồi 6 Có bốn dấu hiệu sinh tồn cơ bản trong y khoa là: Thân nhiệt, huyết áp, nhịp tim, nhịp thở. 9 cả một câu ngắn, một số trẻ bắt đầu biết kết hợp các câu ngắn thành một câu dài7. Từ đó có thể thấy, trẻ sơ sinh là tên gọi của thời kỳ từ khi các bé chào đời cho tới khi được 1 tháng tuổi, đây là giai đoạn các bé bắt đầu làm quen với sự thay đổi của môi trường bên ngoài bụng mẹ.
Nhìn nhận trên góc độ pháp lý, theo pháp luật hình sự Việt Nam, hiện nay chỉ có duy nhất một văn bản đưa ra định nghĩa về con mới đẻ, theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 04-HĐTPTANDTC/NQ ngày 29/11/1986 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân dân tối cao dẫn áp dụng một số quy định trong phần tội phạm của BLHS năm 1985 hướng dẫn (sau này gọi tắt là “Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ” ) thì “Con mới đẻ là đứa trẻ mới sinh ra trong bảy ngày trở lại”, đến BLHS năm 1999 cũng chỉ quy định chung là con mới đẻ. Tuy nhiên, trên tinh thần của Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ thì BLHS năm 2015 đã chọn mốc 07 ngày tuổi là khoảng thời gian của con mới đẻ để quy định trong Điều 124. Như vậy, quy định thì khoảng thời gian người mẹ được coi là còn trong trạng thái mới sinh con là khoảng thời gian từ khi sinh con cho đến ngày thứ bảy. Trong thời gian này, người mẹ còn đang trong trạng thái tâm sinh lý không bình thường do tác động của việc sinh con.
Chính vì thế, việc giết con, vứt bỏ con dẫn đến đứa bé chết mà người mẹ không phải chịu ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng lạc hậu hay trong hoàn cảnh khách quan khác thì người mẹ có thể bị cấu thành tội danh giết người. Một câu hỏi được đặt ra từ quy định tại Điều 124 BLHS rằng “Căn cứ nào để xác định 07 ngày là cột mốc chính của hành vi phạm tội?”. Trên thực tế, chưa có báo cáo hay căn cứ rõ ràng trong việc vì sao xác định 07 ngày là cột mốc chính của hành vi phạm tội. Tuy nhiên, theo nhóm nghiên cứu thì có thể trong 07 ngày đầu tiên (sau khi sinh con), người mẹ – người phụ nữ trực tiếp sinh con sẽ dễ bị tổn thương bởi các tác động tâm lý, tâm sinh lý có thể thay đổi trực tiếp và ảnh hưởng thay đổi nhiều nhất.
Mặt khác, khi nhìn nhận từ phía đứa bé thì giai đoạn 07 ngày là vừa kết thúc thời kỳ chu sinh (“Chu” là chung quanh, “chu sinh” là gần thời kỳ sinh. Nghĩa là trước khi sinh 12 tuần và sau khi sinh 1 tuần8) tức là trong thời kỳ chu sinh, trẻ sẽ phải trải qua bước chuyển đổi môi trường sống quan trọng, từ sống trong tử cung mẹ được đưa thức ăn dinh dưỡng 7 Lê Khanh (2020), Những dấu hiệu trẻ chậm nói, Báo VNExress, [https://vnexpress.net/nhung-dau- hieu-tre-cham-noi-2984254.html] (truy cập lần cuối vào lúc 20. 8 Y Khoa Diamond (2021), “Tử vong chu sinh – nguyên nhân và cách khắc phục,” [https://ykhoadiamond.com/tu-vong-chu-sinh-nguyen-nhan-cach-khac-phuc/] (truy cập lần cuối vào lúc 20. 10 trực tiếp qua dây rốn, chuyển sang môi trường sống ngoài tử cung9 nên trẻ có nhiều cảm xúc khóc la khiến người mẹ bị ảnh hưởng một phần cảm xúc tiêu cực đó.
Trong khoảng thời gian này, trẻ rất cần sự chăm sóc chu đáo cũng như sự quan tâm của người mẹ. Chính vì thế, thời gian đầu sau sinh, người mẹ sẽ trải qua nhiều cung bậc cảm xúc và tâm trạng khác nhau. Ngoài niềm vui vô bờ khi nhìn thấy con yêu chào đời là vô vàn những rắc rối khác xảy đến với người mẹ. Trong đó hội chứng “baby blues” và trầm cảm sau sinh ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống của mẹ.
Nhẹ nhất là trạng thái khóc lóc và ủ rũ (hội chứng baby blues), trầm cảm sau sinh (postpartum major depression) và cuối cùng là rối loạn tâm thần sau sinh (postpartum psychosis) - Hội chứng rối loạn tâm thần sau sinh có thể xuất hiện sớm với các dấu hiệu như kích động, lú lẫn và có vấn đề về trí nhớ, hay cáu kỉnh, mất ngủ và lo lắng. Các triệu chứng muộn hơn của hội chứng rối loạn tâm thần sau sinh bao gồm: hoang tưởng, ảo giác, có những hành vi bất thường và xa lánh mọi người, đặc biệt là không quan tâm hoặc gây tổn thương cho chính bản thân và đứa trẻ10. Chung quy lại, trầm cảm sau sinh không chỉ gây ra tình trạng buồn bã, mệt mỏi, lo âu, thiếu tập trung… mà còn sinh ra cảm giác chán ghét, muốn chết hoặc thậm chí là muốn giết cả con mình. Mặc dù hệ quả của căn bệnh trầm cảm là rất nguy hiểm cho chính bản thân người bệnh và cho xã hội.
Song dường như tính chất nguy hiểm của căn bệnh này vẫn chưa được quan tâm đúng mức và thường bị nhầm lẫn với các triệu chứng rối loạn cảm xúc thông thường mà hầu hết người thân dễ dàng bỏ qua hoặc không để ý11. Chính vì những lý do đó, theo quan điểm của nhóm tác giả thì căn cứ xác định 07 ngày của các nhà lập pháp đưa ra là dựa trên sự kết hợp của vòng kết thúc thời kỳ “chu sinh” của đứa bé và trạng thái tâm lý của người mẹ để làm căn cứ xác định hành vi phạm tội của người mẹ là có cơ sở dựa trên góc độ y học. Thứ hai, về khái niệm về “tư tưởng lạc hậu” và “hoàn cảnh khách quan đặc biệt”. 9 Phan Thị Cẩm Vân (2020), “Chăm sóc trẻ thời kỳ chu sinh (7 ngày đầu sau sinh)”, Bệnh viện Vinmec, năm 2020, [https://www.com/vi/tin-tuc/thong-tin-suc-khoe/nhi/cham-soc-tre-thoi-ky-chu-sinh- 7-ngay-dau-sau-sinh/] (truy cập lần cuối vào lúc 20.
10 Bệnh viện quốc tế City (2018), “Diễn biến tâm sinh lý phụ nữ”, Báo Tuổi Trẻ, [https://tuoitre.vn/dien- bien-tam-sinh-ly-o-phu-nu-sau-sinh- htm] (truy cập lần cuối vào lúc 20. 11 Kim Oanh (2017), “Hệ luỵ của trầm cảm sau sinh”, Cổng thông tin điện tử Sở Tư Pháp Hà Tĩnh, [http://tuphap.vn/chi-tiet-tin-tuc/he-luy-cua-nguoi-bi-tram-cam-sau-sinh] (truy cập lần cuối vào lúc 09. 11 Tư tưởng lạc hậu là những tư tưởng, suy nghĩ, lối sống cũ kỹ, phản tiến bộ, những tư tưởng cũ không phù hợp với đời sống hiện tại. Tư tưởng lạc hậu được sản sinh ra trong xã hội cũ còn tồn tại trong xã hội mới, đồng thời là những tư tưởng phản tiến bộ nảy sinh trong quá trình xây dựng xã hội mới12.