MỞ ĐẦU 1.1 Tên đề án Ứng dụng chụp cắt lớp vi tính trong khảo sát tuyến thượng thận ở người trưởng thành.2 Người thực hiện − Người thực hiện đề án: Lê Ngô Gia Thảo. − Người hướng dẫn khoa học: TS. Phạm Thái Hưng. − Đơn vị thực hiện: Bộ môn Chẩn đoán hình ảnh – Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh.3 Lý do thực hiện đề án Tuyến thượng thận (TTT) tuy là một cơ quan có kích thước nhỏ trong ổ bụng nhưng đảm nhiệm chức năng của nhiều tuyến nội tiết quan trọng.
Các bệnh lý của tuyến có thể tạo hình ảnh khối choán chỗ khu trú, phì đại lan tỏa, hoặc không làm biến đổi hình dạng TTT. Các tổn thương kích thước lớn sẽ được phát hiện dễ dàng trên hình ảnh học. Tuy nhiên, những trường hợp khối choán chỗ nhỏ hoặc làm thay đổi kích thước TTT không đáng kể và giữ nguyên hình dạng bình thường của tuyến thường gây khó khăn trong chẩn đoán. Hơn nữa các TTT là cơ quan thường được phát hiện bệnh lý tình cờ trong quá trình khảo sát hình chụp cắt lớp vi tính (CLVT) trên mặt phẳng ngang.
Vì vậy, việc nhận biết được giới hạn bình thường của kích thước TTT là quan trọng trong thực hành lâm sàng. Nhiều kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh (CĐHA) có thể được áp dụng để khảo sát TTT như nhấp nháy đồ, siêu âm, chụp CLVT, chụp cộng hưởng từ (CHT), chụp cắt lớp phát xạ positron (PET). Trong đó, chụp CLVT được xem là công cụ có nhiều ưu điểm hơn các kỹ thuật khác. Với độ phân giải không gian mức độ cao, chụp CLVT có thể thể hiện chính xác hình ảnh TTT bình thường cũng như phát.
2 hiện các khối u nhỏ và lớn ở hầu hết các bệnh nhân.1 Chụp CLVT đã đánh giá được nhiều đặc điểm của TTT được như hình dạng, kích thước trên các mặt phẳng, thể tích tuyến,…. Trong số đó, đo bề dày TTT trên mặt phẳng ngang đã và đang là cách dùng phổ biến nhất trong thực hành lâm sàng vì tính đơn giản, nhanh chóng và không yêu cầu sử dụng phần mềm chuyên dụng.2 Tuy nhiên, TTT có hình dạng khá đa dạng và phức tạp. Ngoài ra, một số nghiên cứu ghi nhận kích thước các chi TTT bị ảnh hưởng nhiều hơn thân tuyến trong bệnh lý tăng sản TTT hai bên;3 vì vậy, việc đo đạc kích thước tại một hoặc một vài vị trí có thể không thể hiện được toàn bộ đặc điểm của TTT. Bên cạnh các cách đo đạc TTT trên mặt phẳng, nhiều tác giả đã tiến hành đo thể tích TTT từ năm 1987,4 đây là phương pháp đánh giá kích thước TTT trong không gian ba chiều.
Nhiều nghiên cứu đã ghi nhận thể tích TTT có thể bị biến đổi trong một số bệnh lý như trầm cảm, bệnh Cushing, đái tháo đường, sốc nhiễm trùng,5–8 …. Một số tác giả đề xuất sử dụng số đo thể tích TTT thay cho việc đo nồng độ cortisol tự do trong nước tiểu trong 24 giờ để đánh giá hoạt động của trục hạ đồi – tuyến yên – TTT.8 Wang X và cs cho rằng sự thay đổi thể tích TTT là một yếu tố độc lập tiên lượng tử vong trong 28 ngày ở những bệnh nhân sốc nhiễm trùng.9 Các nghiên cứu trên cho thấy thể tích TTT có nhiều ý nghĩa trong thực hành lâm sàng. Ngoài ra, kỹ thuật chụp CLVT đa dãy đầu dò và khả năng tái tạo hình ảnh đa mặt phẳng cùng với sự phát triển của các phần mềm tính thể tích cơ quan đã cho phép việc đo đạc thể tích TTT ngày càng dễ dàng hơn. Các nghiên cứu về đo thể tích TTT trên dân số châu Á vẫn còn hạn chế và hiện chưa có nghiên cứu tương tự ở Việt Nam.
Vì vậy, chúng tôi tiến hành thực hiện đề án này nhằm khảo sát thể tích TTT bình thường ở người Việt Nam trưởng. 3 thành, từ đó hỗ trợ cho công việc chẩn đoán của các bác sĩ CĐHA, đồng thời định hướng cho các bác sĩ lâm sàng trong chẩn đoán và tiên lượng bệnh.4 Mục tiêu của đề án 1.1 Mục tiêu chung Ứng dụng chụp CLVT trong khảo sát TTT bình thường ở người Việt Nam trưởng thành.2 Mục tiêu cụ thể − Xác định hình dạng của TTT hai bên trên chụp CLVT. − Xác định thể tính TTT bình thường trên chụp CLVT ở người trưởng thành.5 Nhiệm vụ của đề án − Mô tả hình ảnh TTT hai bên trên chụp CLVT. − Xác định thể tích TTT bình thường trên chụp CLVT và so sánh thể tích TTT bên trái và bên phải.
− Đánh giá mối tương quan giữa thể tích TTT với các yếu tố tuổi, giới tính, chiều cao, cân nặng, BMI.6 Phạm vi của đề án 1.1 Đối tượng Bệnh nhân đủ 18 tuổi trở lên, khám ngoại trú hoặc đang điều trị nội viện vì các nguyên nhân không liên quan đến bệnh lý TTT, được chụp CLVT bụng chậu có tiêm thuốc cản quang tại Bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh (TP HCM).2 Địa điểm Bệnh viện Đại học Y Dược TP HCM.3 Thời gian Thời gian thực hiện đề án khoảng 12 tháng, từ tháng 10/2022 đến tháng 10/2023. 5 CHƯƠNG 2 NỘI DUNG 2.1 Cơ sở để xây dựng đề án 2.1 Tổng quan các kiến thức liên quan đến đề án 2.1 Phôi thai học, giải phẫu, sinh lý tuyến thượng thận a. Phôi thai học tuyến thượng thận Tuyến thượng thận là cơ quan chứa hai loại mô khác nhau xuất phát từ hai nguồn gốc phôi thai riêng biệt. Vỏ TTT xuất phát từ lớp trung bì của gờ niệu sinh dục, và phần tủy xuất phát từ mô mào thần kinh.
Hai loại mô này đảm nhận hai chức năng của tuyến: chức năng steroid và chuyển hóa catecholamine. Trong tuần thứ 5 – 6 của thai kỳ, các tế bào trung mô hai bên tăng sinh giữa gốc mạc treo ruột và mào niệu dục, hình thành nên phần vỏ nguyên thủy của tuyến. Trong suốt tuần thứ 7 của thai kỳ, các tế bào vỏ và tủy tuyến sẽ di chuyển để hợp nhất thành TTT (Hình 2. Vỏ nguyên thủy sẽ phát triển bao xung quanh phần tủy thượng thận.
Trước tuần thứ 8 của thai kỳ, những tế bào vỏ tách ra khỏi trung mô và sau đó toàn bộ TTT được bao bọc trong lớp trung bì, tách TTT với tuyến sinh dục và thận đang phát triển đồng thời. Đến tuần thứ 9 của thai kỳ, vỏ tuyến biệt hóa thành hai vùng mô học khác nhau: vùng xác định và vùng phôi. Trong suốt thời kỳ bào thai, phần vỏ nguyên thủy sẽ tiết androgen, và cùng với sự sản xuất hormone của tuyến sinh dục, sẽ ảnh hưởng đến giới tính của thai nhi. Trong tam cá nguyệt III của thai kỳ, lớp vỏ thứ 3 hay còn gọi là vùng chuyển tiếp, sẽ hình thành giữa vùng xác định và vùng phôi của vỏ TTT.
Sau sinh 6 tháng, vùng xác định sẽ tạo thành lớp cầu (zona glomerulosa), là lớp ngoài cùng của vỏ thượng thận, nơi sản xuất mineralocorticoids, vùng chuyển tiếp sẽ tạo thành lớp sợi (zona fasciculata), nơi sản xuất các glucocorticoid. Trong năm đầu đời, vùng phôi của vỏ TTT sẽ phát triển thành lớp lưới (zona reticularis) và chịu trách nhiệm sản xuất hormone. 6 androgen, đây là lớp trong cùng của vỏ thượng thận. Phần lớn vỏ phôi bị thoái triển trong khi phần vỏ vĩnh viễn tăng sinh về phía trung tâm của tuyến.
Kết quả của quá trình này là phần vỏ phôi chỉ còn chiếm khoảng 20% thể tích lớp vỏ vào tuần thứ 12 sau sinh. Lớp lưới sẽ trở thành một lớp riêng biệt khi trẻ 3 – 4 tuổi10,11 (Hình 2. Các tế bào Chromaffin là các tế bào chức năng của tủy thượng thận và xuất phát từ mào thần kinh (Hình 2. Chúng sản xuất các catecholamine và là nguồn gốc của u tế bào ưa crom và u nguyên bào thần kinh.1 Phôi thai học về nguồn gốc của tuyến thượng thận Nguồn gốc của vỏ và tủy thượng thận bên trái trên thiết diện cắt ngang phôi.
Vỏ thượng thận xuất phát từ trung mô giữa rễ mạc treo lưng và mào sinh dục. Tủy thượng thận xuất phát từ mào thần kinh và di trú vào vỏ thượng thận đang phát triển.2 Phôi thai học về sự phát triển của tuyến thượng thận Tuần thứ 7 thai kỳ, tế bào tủy thượng thận di trú đến và bắt đầu sáp nhập vào vỏ thượng thận đang phát triển. Trong tam cá nguyệt II, vỏ thượng thận bao quanh tủy thượng thận và toàn bộ tuyến được bọc bởi lớp trung mô, giúp phân tách TTT với các cơ quan khác sau phúc mạc. Tuần thứ 9 thai kỳ, vỏ thượng thận bắt đầu biệt hóa thành các vùng có mô học và sinh lý khác nhau, và sau sinh, quá trình này vẫn tiếp tục diễn ra trong những năm đầu đời của trẻ.
Giải phẫu tuyến thượng thận Trong cơ thể, tuyến thượng thận gồm hai tuyến nhỏ nằm áp lên cực trên hai thận. Trọng lượng của TTT lúc mới sinh khoảng 8 gam, gần bằng kích thước TTT người lớn. Lúc này kích thước TTT bằng 1/3 kích thước thận cùng bên, trong khi ở người lớn tỷ lệ này là 1/30. Nếu xét theo tỷ lệ với trọng lượng cơ thể, TTT trẻ.
8 sơ sinh lớn gấp 10 – 20 lần so với TTT người trưởng thành. Đến cuối tháng thứ 2, TTT thoái triển khoảng 50% trọng lượng so với lúc mới sinh. Đến năm thứ 2, tuyến mới tăng dần kích thước và đến quanh độ tuổi dậy thì, tuyến mới lấy lại trọng lượng gần như lúc mới sinh. Sau đó, TTT chỉ tăng kích thước rất nhẹ ở tuổi trưởng thành.10,12 Tuyến thượng thận bên phải có hình tam giác, TTT bên trái có hình bán nguyệt và lớn hơn TTT bên phải.
Bề mặt tuyến có màu vàng cam nhẹ, giúp phân biệt với mô mỡ lân cận. TTT nằm sau phúc mạc, nằm ở trên, hướng nhẹ ra trước và vào trong so với thận. Chúng nằm cạnh hai bên cột sống, TTT phải nằm phía trước xương sườn XII, TTT trái nằm trước xương sườn XI và XII. Cả hai TTT nằm trong lớp mỡ cạnh thận, trong hố trên trong của thận và cả ba thành phần thận, TTT, mỡ cạnh thận được bọc trong mạc Gerota.
TTT được ngăn cách với thận bằng một mạc ngang có bản chất là mô liên kết, đặc điểm này giúp phẫu thuật cắt bỏ TTT dễ dàng hơn. Mạc thận bao quanh TTT, kéo dài lên trên, gắn vào cơ hoành và giúp cố định TTT vào thành bụng sau. Liên quan phía sau của TTT hai bên gần giống nhau, đều áp vào cơ hoành, trong khi đó mối liên quan giải phẫu của các mặt còn lại có sự khác biệt. TTT bên phải nằm ngay dưới vùng trần của gan, phía trước liên quan với thùy phải gan và tĩnh mạch chủ dưới.