CHƯƠNG 1. Tính cấp thiết của vấn đề. Mục tiêu nghiên cứu. Phạm vi nghiên cứu.
Câu hỏi nghiên cứu. Đóng góp của luận văn. Kết cấu của luận văn. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ SỰ ỨNG PHÓ CỦA NGƯỜI DÂN ĐỐI VỚI THIỆT HẠI DO NGẬP NƯỚC GÂY RA 2.
Hệ thống các khái niệm. Lý thuyết tiếp cận vấn đề. Các nghiên cứu có liên quan. Đánh giá chung và hướng thực hiện nghiên cứu của luận văn.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. Mô hình nghiên cứu. Dữ liệu nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN. Thực trạng và nguyên nhân ngập nước. Thiệt hại do ngập nước. Sự lựa chọn giải pháp ứng phó với ngập nước của người dân.
Ảnh hưởng của giải pháp ứng phó đến thiệt hại do ngập nước. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ. Khuyến nghị chính sách .65 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO. Tính cấp thiết của vấn đề Hiện nay, đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ cùng với quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa như một tiến trình phát triển tất yếu tại các đô thị ở Việt Nam, đặc biệt ở hai đô thị lớn là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh (TP.
Quá trình đô thị hóa tại TP.HCM mang đến nhiều yếu tố tích cực, tuy nhiên, đô thị hóa mất kiểm soát lại tạo ra một số vấn đề tiêu cực cho đô thị như ô nhiễm môi trường, bùng nổ dân số, ngập nước,. Trong đó, ngập nước là một vấn nạn đáng lo ngại, gây ra nhiều hậu quả cho các đô thị trên cả nước và TP.HCM cũng không phải là ngoại lệ. Trong suốt hơn một thập niên vừa qua, tình trạng ngập nước ở TP.HCM vẫn diễn ra ngày càng trầm trọng. Thành phố đã đầu tư gần 29,000 tỷ đồng kể từ năm 2008 vào việc xây dựng các hệ thống cống ngăn triều, xây mới và cải tạo hệ thống cống thoát nước, nạo vét cải tạo kênh rạch, xây dựng 12 nhà máy xử lý nước thải để chống ngập nước trên toàn thành phố.
Thế nhưng, nhiều tuyến đường trước đây chưa từng bị ngập nước giờ lại trở thành “sông” mỗi khi mưa lớn hay triều cường. Số điểm ngập nước trên toàn thành phố đang giảm trong giai đoạn 2008 đến 2015 (126 điểm ngập còn 23 điểm ngập) nhưng lại nhanh chóng tăng hơn gấp đôi thành 59 điểm vào năm 20161. Thiệt hại kinh tế do ngập nước ở nước ta có xu hướng tăng lên qua các năm. Ước tính thiệt hại GDP hàng năm, Việt Nam xếp thứ 7 trên thế giới trong giai đoạn 1994 – 20132.
Thế nhưng, khi có sự chuẩn bị để ứng phó trước khi các sự kiện ngập nước diễn ra thì sẽ giảm thiểu được đáng kể các thiệt hại do ngập nước gây ra. Chính vì vậy, việc kiểm soát ngập nước cũng như việc lập các chính sách, chiến lược, hành động làm giảm thiểu thiệt hại do ngập nước gây ra luôn là vấn đề quan trọng, được Chính phủ quan tâm và người dân trông chờ. 1 Báo VnExpress (2016), Tình trạng ngập lụt ở TP.HCM như thế nào qua 8 năm, Tạp chí điện tử VnExpress, <http://vnexpress.net/interactive/2016/59-diem-ngap-tp-hcm/>. 2 Thắng Quang (2016), Đã có sai sót trong cách chống ngập ở Sài Gòn, Tạp chí điện tử Zing.vn, < https://zingnews.vn/da-co-sai-sot-trong-cach-chong-ngap-o-sai-gon-post685581.html > 2 Các công trình nghiên cứu về ngập nước như Quy hoạch tổng thể hệ thống thoát nước TP.HCM đến năm 2020 do JICA (Nhật Bản) thực hiện đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt năm 2001 theo Quyết định số 752/QĐ-TTg; Quy hoạch thủy lợi chống ngập úng khu vực TP.HCM (còn được gọi Quy hoạch 1547) đã được Thủ tướng phê duyệt năm 2008; dự án chống ngập khu vực TP.HCM của Haskoning Netherland (2013), … đã chỉ ra được các nguyên nhân gây ngập nước tại TP.HCM, trong đó có thể nói năng lực hạn chế về đầu tư hạ tầng đồng bộ trước sức ép phát triển, khả năng quản lý phát triển đô thị khi mở rộng vào các khu vực trũng thấp và tác động hai chiều của san lấp làm cho đỉnh triều dâng cao là nguyên nhân gia tăng ngập nước ở TP.
Bốn mươi năm qua, quá trình đô thị hóa vùng ven ở TP.HCM dẫn tới sự mở rộng đáng kể ranh giới đô thị. Từ năm 1975 đến 2000, thành phố đã mở rộng đáng kể nhưng vẫn chủ yếu nằm ở phía Bắc kênh Tàu Hũ. Hướng mở rộng chủ yếu là về phía Bắc, nơi đất cao và không bị ảnh hưởng bởi triều cường. Tuy nhiên, từ những năm 2000 đến nay, thành phố bắt đầu mở xuống phía Nam và phía Đông cùng với sự mở rộng nhanh chóng trên các hướng.
Việc mở rộng ranh giới thành phố trong giai đoạn gần đây đã tiến về các khu vực vốn có nền đất thấp (1 – 1.5m), trong khi chuẩn mực về quy hoạch chiều cao cho phát triển đô thị mới là 2m. Như vậy, hầu hết các khu vực mới mở rộng từ sau năm 2000 (trừ Tây Bắc) đa phần có cốt tự nhiên nằm dưới cốt san nền quy hoạch, hay nói cách khác là nằm ở khu vực trũng thấp. Với xu hướng mở rộng như hiện nay, tỉ lệ diện tích đất xây dựng đô thị ở khu vực nằm dưới mức đỉnh triều cường ngày càng mở rộng. So với các khu cũ, các khu vực mới ít được đầu tư hạ tầng thoát nước, đây cũng là nguyên nhân dẫn đến các khu vực mới phát triển thường xuyên ngập nước.
Bên cạnh đó, việc san nền ở khu vực ven đô tất yếu phải bê tông hóa, nâng cốt nền, đồng thời san lấp một phần kênh rạch và hồ ao chứa nước và làm suy giảm khả năng tiêu thoát nước, nhiều dự án san nền không thống nhất, không theo quy hoạch, tạo nhiều khoảng trống về hạ tầng và là nguyên nhân gây ngập úng cục bộ và khó kết nối các khu vực, dẫn tới khu vực này đẩy ngập lan sang khu vực khác. 3 Cùng với đó, ở nước ta hiện nay những nghiên cứu về thiệt hại của ngập nước đến đời sống dân cư, sự ứng phó của người dân đối với thiệt hại do ngập nước gây ra chưa được toàn diện, rời rạc và kém đồng bộ. Cụ thể vào buổi chiều ngày 26/9/2016, trên địa bàn TP.HCM xuất hiện trận mưa lớn trên diện rộng, được xem là cơn mưa lớn nhất tính từ năm 1975 đến nay. Theo thông tin từ Trung tâm điều hành chương trình chống ngập nước TP.HCM, trong thời gian khoảng 01 giờ 30 phút, lượng mưa đã đạt đến 204.3 mm, vượt xa tần suất thiết kế hệ thống thoát nước hiện nay khi đối với tuyến cống cấp 2, lượng mưa đạt trong 01 giờ 30 phút ứng với chu kỳ 100 năm chỉ là 137.
Thế nhưng, thống kê thiệt hại sau cơn mưa của Trung tâm chỉ nêu lên đã gây ngập 59 tuyến đường, chiều sâu ngập từ 0.5 m; diện tích ngập từ 100m2 đến 30.000 m2 chứ không đưa ra một con số cụ thể về thiệt hại mà người dân phải gánh chịu cũng như cuộc sống bị ảnh hưởng như thế nào sau cơn mưa đó. Xuất phát từ những lý do trên, luận văn “Ảnh hưởng của những giải pháp ứng phó của người dân đến thiệt hại do ngập nước tại Thành phố Hồ Chí Minh” được thực hiện nhằm nghiên cứu sự lựa chọn các giải pháp ứng phó với ngập nước của người dân tại TP. Thông qua đó, đánh giá ảnh hưởng của những giải pháp ứng phó của người dân đến thiệt hại do ngập nước tại TP. Từ đó, xây dựng các định hướng hoặc giải pháp cần được ưu tiên thực hiện để nâng cao nhận thức của người dân về các rủi ro và thiệt hại do ngập nước gây ra mà họ đang và sẽ phải đối mặt tại TP.HCM, tạo sự chủ động để ứng phó kịp thời, nhằm hạn chế thiệt hại do ngập nước gây ra.
Mục tiêu nghiên cứu 2. Mục tiêu chung Đề tài được thực hiện nhằm nghiên cứu thực trạng lựa chọn các giải pháp ứng phó đối với thiệt hại do ngập nước gây ra của người dân tại TP. Thông qua đó, đánh giá sự khác biệt về thiệt hại giữa nhóm hộ gia đình có thực hiện các giải pháp ứng phó đối với thiệt hại do ngập nước gây ra và nhóm hộ gia đình không thực hiện. 4 Từ đó, đề xuất một số định hướng/giải pháp góp phần nâng cao nhận thức của người dân và sự chủ động ứng phó với thiệt hại do ngập nước gây ra tại TP.
Mục tiêu cụ thể Thứ nhất, đề tài phân tích và đánh giá thực trạng sự lựa chọn các giải pháp của người dân nhằm ứng phó đối với thiệt hại do ngập nước gây ra tại TP. Thứ hai, đề tài đánh giá sự khác biệt về thiệt hại giữa nhóm hộ gia đình có thực hiện các giải pháp ứng phó đối với thiệt hại do ngập gây ra và nhóm hộ gia đình không thực hiện. Thứ ba, đề xuất định hướng/giải pháp nhằm nâng cao nhận thức, sự chủ động ứng phó nhằm giảm thiểu thiệt hại do ngập nước gây ra đối với người dân tại TP. Phạm vi nghiên cứu 3.
Không gian Đề tài nghiên cứu đối với 1000 hộ dân đang sinh sống tại Quận 7, Quận 8, Quận Bình Thạnh và huyện Nhà Bè của TP. Thời gian Đề tài nghiên cứu dựa trên dữ liệu khảo sát về thiệt hại do ngập nước gây ra trong giai đoạn 2010 – 2020 đối với các hộ gia đình sinh sống tại khu vực nghiên cứu. Nội dung Đề tài nghiên cứu sự lựa chọn thực hiện các giải pháp nhằm ứng phó với thiệt hại do ngập nước gây ra của các hộ gia đình sinh sống tại TP.HCM, những giải pháp này thường là thay đổi cấu trúc nhà ở hoặc thay đổi sinh hoạt của gia đình. Cùng với đó, đề tài đi sâu vào tìm hiểu và lượng giá các chi phí mà các hộ gia đình phải chi trả để khắc phục những thiệt hại do ngập nước gây ra.
Đây là cơ sở cho việc phân tích sự khác biệt về thiệt hại giữa nhóm hộ gia đình có thực hiện giải pháp nhằm ứng phó đối với thiệt hại do ngập nước gây ra và nhóm hộ gia đình không thực hiện. Câu hỏi nghiên cứu Để thực hiện mục tiêu của đề tài, các câu hỏi nghiên cứu bao gồm: - Người dân TP.HCM lựa chọn các giải pháp nào để ứng phó với thiệt hại do ngập nước gây ra? - Thiệt hại do ngập nước gây ra giữa nhóm hộ gia đình có thực hiện các giải pháp ứng phó và các hộ gia đình không thực hiện khác nhau như thế nào? 5. Đóng góp của luận văn 5.