CHƯƠNG 1 – TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 1.1- Các nghiên cứu nước ngoài Nhu cầu về thông tin để hoạch định và kiểm soát tài chính trong hoạt động kinh doanh đã thúc đẩy sự hình thành kế toán trách nhiệm (Responsibility Accounting). Chính vì vậy, kế toán trách nhiệm đã nhận được nhiều sự quan tâm, nghiên cứu của các chuyên gia trên thế giới. - Năm 1981, tác giả Ahmed Belkaoui thông qua công trình “The Relationship between self – disclosure Style and Attitude to Responsibility Accounting” đăng trên tạp chí “Organization and Society, Vol. 181-189” trình bày chuyên sâu hơn về khái niệm, điều kiện thực tế để áp dụng kế toán trách nhiệm trong tổ chức với phương pháp nghiên cứu cụ thể.
Nhiều khái niệm mới liên quan đến kế toán trách nhiệm cũng được tác giả làm rõ như trung tâm trách nhiệm, trung tâm chi phí … Nghiên cứu này nhấn mạnh rằng nhân tố con người, nhân tố cá nhân đóng vai trò quan trọng trong sự thành công của tổ chức kế toán trách nhiệm vì nhà quản trị phải tự chịu trách nhiệm về hiệu quả của đơn vị mình. Okoye với bài nghiên cứu “Improvement of Managerial Performance in Manufactoring Organizations: An Application of Responsibility Accounting” đăng trên tạp chí “Journal of Management Sciences, Vol. 1, P 1-17” đã trình bày về mối quan hệ giữa kế toán trách nhiệm và thành quả quản lý trong các doanh nghiệp sản xuất; kế toán trách nhiệm là công cụ để đánh giá trách nhiệm quản lý một cách hiệu quả… - Tác giả Rehana Fowzia (2011) đã thông qua công trình nghiên cứu “Use of Responsibility Accounting and Measure the Satisfaction Levels of Service Organizations in Bangladesh” đăng trên tạp chí “International Review of Business Research Papers, Vol. 53-67” nhằm xem xét loại hình hệ thống kế toán trách nhiệm nào đang được thực hiện trong các tổ chức dịch vụ khác nhau ở Bangladesh cũng như tập trung vào mức độ hài lòng 6 đối với hệ thống kế toán trách nhiệm.
Để đạt được những mục đích này, tổng số tám mươi tám tổ chức dịch vụ đã được khảo sát. Kết quả cho thấy rằng không có tổ chức dịch vụ nào tuân theo một loại hệ thống kế toán trách nhiệm nhất định trong số ba loại hệ thống kế toán trách nhiệm là dựa trên hoạt động, dựa trên hoạt động và dựa trên chiến lược. Để kiểm tra mức độ hài lòng đối với tổ chức kế toán trách nhiệm, tác giả đã sử dụng mô hình logit để đo lường. Kết quả chỉ ra rằng sự hài lòng đối với hệ thống kế toán trách nhiệm tổng thể chịu ảnh hưởng bởi sự phân bổ trách nhiệm, kỹ thuật đo lường hiệu năng và hệ thống khen thưởng.
Và mức độ hài lòng tổng thể đối với các loại hình tổ chức dịch vụ là khác nhau. Đây là một trong những nghiên cứu thực nghiệm góp phần khẳng định mức độ hài lòng trong việc thực hiện tổ chức kế toán trách nhiệm ở các doanh nghiệp Bangladesh. - Năm 2012, Mojgan và Safa thực hiện bài nghiên cứu “Examining the Role of Responsibility Accounting in organizational Structure” đề cập đến vấn đề phân cấp, và kiểm soát chi phí hoạt động của công ty. Nếu quyền quản lý các hoạt động hàng ngày được chuyển từ các nhà quản lý cấp cao cho các nhà quản lý cấp thấp hơn, thì sẽ có nhiều cơ hội hơn để tập trung vào kế hoạch chiến lược.
Hệ thống kế toán trách nhiệm được thiết kế để báo cáo và tích lũy chi phí theo từng mức độ trách nhiệm. Mỗi khu vực giám sát chỉ được tính phí với chi phí mà nó chịu trách nhiệm và trên đó nó có quyền kiểm soát. Từ đó có thể xác định trách nhiệm của mỗi người quản lý nhằm đạt được những mục tiêu có thể đạt được trong tổ chức. Bài nghiên cứu này chủ yếu nhằm làm nổi bật vai trò của kế toán trách nhiệm trong quản trị doanh nghiệp.Kirshna Moorthy, Ong Oi Voon, Samsuri, M.Gopalan,King- Tak Yew (2012) thông qua công trình nghiên cứu “Application of Information Technology in Management Accounting Decision Making” đăng trên tạp chí “International Journal of Academic Research in Business and Social Sciences, March 2012, Vol.
3” đã phân tích việc sử dụng Công nghệ thông tin (CNTT) trong kế toán quản trị nói chung và kế toán trách nhiệm nói riêng. Trong 7 khi CNTT thay đổi thường xuyên thì các tiêu chuẩn kế toán vẫn tồn tại trong nhiều năm mà không có bất kỳ thay đổi lớn nào. Vì vậy, mối quan hệ CNTT và kế toán quản trị là rất quan trọng cho cả các tổ chức lớn nhỏ. Bài viết này xem xét mối quan hệ giữa CNTT và kế toán quản trị.
Các tài liệu trong quá khứ cũng cho thấy tiềm năng của CNTT trong kế toán quản trị sẽ giúp đơn giản hóa quá trình tính toán và có thể trình bày tốt hơn về dữ liệu kinh doanh để đưa ra quyết định có hiệu quả. Các phát hiện lý thuyết cũng chỉ ra rằng CNTT có tác động lớn đến chi phí, khi triển khai CNTT sẽ dẫn đến chi tiêu lớn vào phần cứng công nghệ, phần mềm và nhân viên CNTT. Nghiên cứu cũng cho thấy rằng CNTT có thể cải thiện hiệu quả bộ phận kế toán và tạo ra kết quả dễ dàng, kịp thời và chính xác. - Năm 2014, Atu thực hiện bài nghiên cứu “ Responsibility accounting: An Overview” tập trung vào những vấn đề kế toán trách nhiệm và ảnh hưởng của giá chuyển nhượng đối với nền kinh tế Nigeria.
Giá chuyển nhượng hiện đang trở thành một vấn đề toàn cầu. Đây là kết quả của một số hoạt động do các công ty đa quốc gia thực hiện để giảm gánh nặng thuế doanh nghiệp của họ. Và bài nghiên cứu chủ yếu việc xem xét kế toán trách nhiệm là công cụ hiệu quả trong xây dựng giá chuyển nhượng ở Nigeria. - Năm 2015, một công trình nghiên cứu khác có tiêu đề tương tự là “Examining the Role of Responsibility Accounting in organizational Structure” của Rikita, Minaxi Rani cũng đã nêu rõ vai trò của kế toán trách nhiệm trong quản trị doanh nghiệp nhưng với nội dung chủ yếu liên quan đến quy mô của doanh nghiệp và hoạt động kinh doanh.
Các hoạt động tập trung trong các tổ chức trở nên phức tạp hơn khi có sự phát triển và tăng trưởng kinh doanh, nhu cầu ủy quyền và trách nhiệm sẽ được xây dựng dựa trên quy mô của doanh nghiệp. Khi hoạt động kinh doanh được phân cấp thì giám đốc và người quản lý chịu trách nhiệm lập kế hoạch và kiểm soát hoạt động kinh doanh. 8 - Tác giả Philip Owino (2017) thông qua công trình nghiên cứu “ The Current Status of Responsibility Accounting in Ugandan Public Universities” đăng trên tạp chí “Donnish Journal of Business and Finance Management Research ,Vol 3(1) pp. 001-008 January, 2017” nhằm kiểm tra tác động trung gian của việc ủy quyền trong mối quan hệ giữa phân cấp quản lý và kế toán trách nhiệm tại các khoa ở các trường đại học công lập Uganda.
Bài báo đã thông qua phương pháp Boran và Kenny, phân tích hồi quy phân cấp và phương pháp lấy mẫu có hoàn lại để kiểm tra các biến trung gian. Quan hệ ủy quyền là trung gian đáng kể trong mối liên hệ giữa phân cấp và kế toán trách nhiệm. Nó cũng thúc đẩy tăng cường mối quan hệ giữa hai biến với 25,6 % trong các phòng ban của các trường đại học công lập. Điều này cho phép giải thích và đề xuất quan hệ ủy quyền là phương tiện khả thi, minh bạch và hiệu quả trong mối quan hệ giữa phân cấp và kế toán trách nhiệm.
Đây là bài nghiên cứu thực nghiệm tập trung vào việc kiểm tra tác động trung gian của quan hệ ủy quyền trong mối quan hệ giữa phân cấp và kế toán trách nhiệm tại các khoa học ở các trường đại học công lập Uganda. Việc nghiên cứu về kế toán trách nhiệm được các nhà nghiên cứu trên thế giới nhìn nhận ở nhiều góc độ khác nhau nhưng tóm lại thì kế toán trách nhiệm là một hệ thống đánh giá trách nhiệm và công cụ kiểm soát hiệu quả. Đây cũng là phần nội dung quan trọng mà bài luận văn của tác giả sẽ kế thừa. Tuy nhiên, việc nghiên cứu tổng quan các nhân tố có thể làm ảnh hưởng đến việc hoàn thiện tổ chức kế toán trách nhiệm doanh nghiệp vẫn chưa được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm.
Các công trình nghiên cứu về kế toán trong ngành Logistics trên thế giới hiện nay vẫn còn hạn chế chủ yếu là tập trung xoay quanh vấn đề chi phí Logistics (Logistics Cost), chứ chưa đề cập đến vấn đề về kế toán trách nhiệm. - Năm 2001, tác giả Olivier Aptel, Hamid Pourjalali công bố bài nghiên cứu “ Improving activities and decreasing costs of logsitics in hospitals – A comparison of U.S and French hospitals” đăng trên tạp chí “The International 9 Journal of Accounting (2001)”. Bài viết này điều tra sự khác biệt trong chi phí Logistics (hoặc quản lý chuỗi cung ứng) giữa các bệnh viện lớn ở Hoa Kỳ và Pháp. Do logistics và quản lý chuỗi cung ứng được coi là những khía cạnh quan trọng trong quản lý bệnh viện, bài viết này khám phá những lý do có thể có sự khác biệt giữa các bệnh viện ở Hoa Kỳ và Pháp.
Sự khác biệt được rút ra từ các biến, chẳng hạn như (1) phạm vi trách nhiệm đối với các bộ phận logistics,bao gồm: thu mua, cung cấp vật lý, tiếp nhận, quản lý hàng tồn kho, phân phối nội bộ cho các phòng y tế và hệ thống thông tin quản lý; (2) cách thức phân phối các nguồn cung cấp (như kho trung tâm so với phân phối nhà cung cấp trực tiếp); (3) số lượng hoặc khối lượng thuốc được phân phối; (4) mức độ hợp tác giữa các bệnh viện và các nhà cung cấp của họ và các bệnh viện khác; và (5) những nỗ lực trong quá khứ của các bộ phận hậu cần trong việc cải thiện quản lý chuỗi cung ứng và các kế hoạch tương lai để cải thiện các chức năng hậu cần. Kết quả cung cấp bằng chứng cho thấy các bệnh viện Hoa Kỳ đã có thể giảm mức tồn kho vật tư đến một mức độ lớn hơn so với các bệnh viện ở Pháp. Khả năng sử dụng quản lý hoạt động Logistics để giảm chi phí liên quan đến nguồn cung cấp vật tư y tế là rất nên được áp dụng trong ngành y học. Do đó, kết quả của nghiên cứu này có liên quan đến việc quản lý bệnh viện nên có ý định cải thiện chức năng Logistics hậu cần và hệ thống thông tin kế toán để giảm chi phí liên quan đến hàng tồn kho.
Trong bài báo này, tác giả cũng ủng hộ triết lý Just-in-Time (JIT) được áp dụng cho các bệnh viện trong việc giảm chi phí hàng tồn kho.