Phần mở đầu, về mặt lý luận, hiện nay có nhiều ý kiến khác nhau về tranh tụng trong TTDS. Có thể tổng hợp thành các luồng quan điểm như sau: Quan điểm thứ nhất cho rằng: “Tranh tụng trong TTDS được hiểu là một phương thức tố tụng để đương sự bảo vệ quyền lợi của mình, toà án xác định sự thật khách quan của vụ án”8. Quan điểm thứ hai cho rằng: “Tranh tụng là việc các bên đương sự đưa ra các chứng cứ, các căn cứ pháp lý, lập luận, tranh luận, đối đáp với nhau nhằm bảo vệ 7 TS Mai Bộ, ‘Nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng dân sự’, www.vn 8 Nguyễn Công Bình (2003), ‘Vấn đề tranh tụng trong tố tụng dân sự’, Tạp chí luật học số 6/2003 11 quyền lợi của mình và Tòa án chủ yếu dựa trên kết quả tranh tụng giữa các bên để ra phán quyết giải quyết vụ án, vụ việc dân sự”9. Quan điểm thứ ba cho rằng: “Theo nghĩa rộng: Tranh tụng là một quá trình được bắt đầu từ khi có yêu cầu khởi kiện và kết thúc khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Quá trình tranh tụng này không chỉ bao gồm các giai đoạn khởi kiện, chuẩn bị xét xử, thu thập, trao đổi chứng cứ, tài liệu, quan điểm về việc giải quyết vụ án, đối chất giữa các bên đương sự, xét xử sơ thẩm, phúc thẩm mà cả giai đoạn xét xử theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm. Thậm chí quá trình tranh tụng có thể được tiến hành lại từ giai đoạn xét xử sơ thẩm, phúc thẩm trong trường hợp khi bản án, quyết định về vụ án bị Tòa án cấp trên hủy để tiến hành xét xử lại. Theo nghĩa hẹp, quá trình tranh tụng được tiến hành tại các phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, theo đó các bên đương sự dưới sự điều khiển của Hội đồng xét xử trực tiếp trình bày yêu cầu, chứng cứ, tranh luận và đối đáp với nhau về chứng cứ, căn cứ pháp lý, lý lẽ, lập luận để chứng minh rằng yêu cầu, phản yêu cầu, phản đối yêu cầu của mình đối với đương sự phía bên kia là có căn cứ và hợp pháp. Trên cơ sở kết quả tranh tụng của các bên đương sự, Hội đồng xét xử ra phán quyết về việc giải quyết vụ án dân sự”10.
Theo quan điểm của tác giả, tranh tụng là quá trình làm rõ sự thật khách quan của vụ án. Quá trình này phải được diễn ra liên tục từ khi nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình cho đến khi tòa án ra quyết định giải quyết vụ án dân sự. Theo đó, các bên chủ thể tranh tụng dưới sự điều khiển của tòa án được đưa ra chứng cứ, trao đổi chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lý để chứng minh cho quyền lợi hợp pháp của mình trước Tòa án theo những trình tự, thủ tục do pháp luật TTDS quy định. Tòa án ra phán quyết vụ án dân sự căn cứ vào kết quả tranh tụng của 9 Viện khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp (2004), Một số vấn đề về tranh tụng trong tố tụng dân sự, Thông tin khoa học pháp lý, Hà Nội.
10 Nguyễn Thị Thu Hà (2011), Tranh tụng trong tố tụng dân sự ở Việt Nam trước yêu cầu cải cách tư pháp, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, Hà Nội. 12 các chủ thể tranh tụng là khá toàn diện. Với quan điểm này chỉ rõ được bản chất của tranh tụng cũng như giới hạn của hoạt động tranh tụng. Theo cách định nghĩa đó thì tranh tụng trong TTDS là một loại tranh tụng trong tố tụng (tương ứng với loại TTDS), bao hàm cả hoạt động tranh tụng trước khi mở phiên tòa, tranh luận tại phiên tòa.
Bởi vì, “TTDS là quá trình giải quyết vụ án dân sự nên tranh tụng trong TTDS là tranh tụng trong quá trình giải quyết vụ án dân sự có thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc”11. “Tranh tụng trong TTDS là việc các bên đương sự gồm nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được đưa ra chứng cứ, căn cứ pháp lý, lập luận, đối đáp lại nhau, tranh luận với nhau trên cơ sở các quy định của pháp luật TTDS để bảo vệ quyền và lợi ích của mình dưới sự giám sát của Tòa án. Thông qua việc tranh tụng, các tình tiết của vụ án được làm sáng tỏ, sự thật khách quan của vụ án được Tòa án nhận thức và căn cứ vào kết quả tranh tụng để đưa ra phán quyết. Tranh tụng không hoàn toàn đồng nhất với chứng minh.
Chứng minh có thể diễn ra một cách đơn chiều, chỉ tồn tại một mối quan hệ giữa các đương sự với Tòa án khi đương sự cung cấp các chứng cứ, tài liệu cho Tòa án để chứng minh cho yêu cầu, hay phản đối yêu cầu của mình là đúng và Tòa án tiếp nhận các chứng cứ. Chứng minh cũng có thể có sự tham gia của rất nhiều các chủ thể, trong đó Tòa án là một chủ thể chứng minh có trách nhiệm chứng minh các bản án, quyết định mà mình đưa ra là có căn cứ và hợp pháp. Khác với chứng minh, trong quá trình tranh tụng Tòa án là người trọng tài, người điều khiển quá trình tranh tụng, đảm bảo quá trình tranh tụng được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật TTDS và căn cứ vào kết quả tranh tụng để ra phán quyết giải quyết vụ án. Tranh tụng là một quá trình được bắt đầu từ khi có tranh chấp dân sự được thể hiện thông qua việc nguyên đơn có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án thụ lý giải quyết, kết thúc khi giải quyết xong tranh chấp dân sự bằng việc Tòa án ra quyết định hoặc bản án có hiệu lực pháp luật về giải quyết vụ án đó.
Còn 11 TS Mai Bộ, ‘Nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng dân sự’, www.vn 13 tranh luận chỉ là một phần của phiên toà dân sự, nó là sự biểu hiện tập trung nhất của tranh tụng”12. Qua các phân tích như trên, tác giả có thể đưa ra khái niệm tranh tụng trong TTDS như sau: “Tranh tụng trong TTDS là một loại tranh tụng trong tố tụng, bao hàm cả hoạt động tranh tụng trước khi mở phiên tòa và tranh luận tại phiên tòa”. Tác giả đồng tình với quan điểm nêu trong đề tài Luận văn Thạc sĩ luật học “Nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng dân sự Việt Nam” của Trịnh Văn Chung, bảo vệ năm năm 2016, Đại học Quốc gia Hà Nội, nguyên tắc tranh tụng có thể hiểu là “những tư tưởng chỉ đạo, định hướng cho việc xây dựng và thực hiện pháp luật để giải quyết vụ án dân sự, theo đó các bên đương sự có quyền xuất trình, trao đổi chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lý để chứng minh, biện luận cho yêu cầu của mình, phản bác yêu cầu độc lập trước Tòa án và Tòa án phải căn cứ vào kết quả tranh tụng để quyết định về việc giải quyết vụ án dân sự”13. Từ những phân tích trên, tác giả đưa ra khái niệm “Thực hiện nguyên tắc tranh tụng trong giải quyết các vụ án dân sự” như sau: “Thực hiện nguyên tắc tranh tụng là việc người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng vận dụng những tư tưởng chỉ đạo, định hướng để giải quyết vụ án dân sự, theo đó các bên đương sự có quyền xuất trình, trao đổi chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lý để chứng minh, biện luận cho yêu cầu của mình, phản bác yêu cầu độc lập trước Tòa án và Tòa án phải căn cứ vào kết quả tranh tụng để quyết định về việc giải quyết vụ án dân sự".
12 Trịnh Văn Chung (2016), Nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng dân sự Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ luật học, Hà Nội. 13 Trịnh Văn Chung (2016), Nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng dân sự Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ luật học, Hà Nội. Đặc điểm thực hiện nguyên tắc tranh tụng trong giải quyết các vụ án dân sự Từ khái niệm thực hiện nguyên tắc tranh tụng trên, có thể đưa ra những đặc điểm sau đây: Thứ nhất, chủ thể thực hiện nguyên tắc tranh tụng bao gồm tòa án, nguyên đơn, bị đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Tòa án là một trong chủ thể thực hiện nguyên tắc tranh tụng, trong đó chính Thẩm phán đóng vai trò là chủ thể quan trọng, người trọng tài để phân xử giữa hai bên tranh tụng và ra phán quyết về việc giải quyết vụ án dân sự.
Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán có vai trò quan trọng trong việc điều khiển quá trình tranh tụng, bảo đảm quá trình tranh tụng diễn ra một cách rõ ràng, trung thực và được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật TTDS đối với việc giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn sơ thẩm. “Tòa án là trọng tài và có quyền áp dụng những quy định của pháp luật để phân xử tranh chấp giữa các bên đương sự trong các vụ án dân sự. Nhiệm vụ của Tòa án tiếp nhận chứng cứ của vụ án do các bên đương sự cung cấp và hỗ trợ đương sự thu thập chứng cứ để giải quyết đúng đắn vụ án dân sự, điều khiển phiên tòa”14. Các đương sự bao gồm “nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan”15 là chủ thể tranh tụng và là người giữ vai trò chủ động, góp một phần vào quyết định kết quả tranh tụng.
Đương sự có vai trò quan trọng nhất trong hoạt động tranh tụng và có tính chất quyết định đến hoạt động tranh tụng. Tính quan trọng của đương sự được khẳng định vì đương sự chính là các chủ thể của quan hệ pháp luật nội dung đang tranh chấp, họ hiểu rõ vụ án hơn bất kỳ chủ thể nào khác tham gia tố tụng. Tòa án (Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử) chỉ có thể đánh giá, đưa ra quan điểm về việc xét xử vụ án thông qua những chứng cứ, lập luận do đương 14 TS Mai Bộ, ‘Nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng dân sự’, www. 15 Quốc hội (2015), Bộ luật tố tụng dân sự.
15 sự cung cấp. Tranh tụng buộc các đương sự phải nỗ lực trong việc tham gia tố tụng và tích cực thu thập chứng cứ có liên quan. Nguyên đơn và bị đơn là “chủ thể tranh tụng trước hết và chủ yếu nhất. Bởi vì, họ là những chủ thể có quyền và lợi ích mâu thuẫn nhau, vị trí tố tụng của họ là đối lập nhau.