Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu Chương này giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu: lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa của việc nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Chương này trình bày những cơ sở lý thuyết về từng hành vi lãnh đạo, sự hài lòng và sự cam kết với tổ chức. Tóm tắt các nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài. Từ đó, xây dựng mô hình đề xuất và các giả thuyết nghiên cứu cho luận văn.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Trên cơ sở lý thuyết, tổng quan các nghiên cứu trước và mô hình nghiên cứu đề xuất, chương này sẽ trình bày phương pháp nghiên cứu để kiểm định các giả thuyết đã đề ra. Chương 4: Phân tích dữ liệu và kết quả nghiên cứu Mô tả phân tích thống kê dữ liệu nghiên cứu, phân tích kết quả của mô hình về tác động của hành vi lãnh đạo đến sự hài lòng và sự cam kết với tổ chức của nhân viên trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ thuộc HAMEE. Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị Tổng kết toàn bộ kết quả nghiên cứu, một số hàm ý quản trị đối với các nhà lãnh đạo quản lý làm việc tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ thuộc HAMEE và những hạn chế của đề tài. 8 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Các khái niệm định nghĩa có liên quan 2.1 Lý thuyết và các khái niệm về sự hài lòng Không có định nghĩa nào chính xác trên toàn thế giới về sự hài lòng, vì nó là một khái niệm đa chiều bao gồm tổng hòa của những cảm giác thuận lợi hoặc không thuận lợi, mà nhân viên nhận thấy từ tổ chức của họ (Davis & Newstrom, 1999).
Vậy thì, câu hỏi đặt ra cho nhà lãnh đạo là nhân viên muốn điều gì từ tổ chức của họ? Có phải họ chỉ muốn có mức lương cao hơn? Hay họ muốn điều kiện làm việc tốt hơn? Hay các mối quan hệ tốt với cấp trên, đồng nghiệp, cơ hội để phát triển và thăng tiến, hay một điều gì khác? Đây là những câu hỏi quan trọng, bởi vì nó là gốc rễ của động lực và sự hài lòng, câu trả lời là chiếc chìa khóa giúp các nhà lãnh đạo, quản lý mở toang cánh cửa khai phá tiềm năng của nhân viên để tạo ra hiệu suất làm việc vượt trội. Để nghiên cứu về sự hài lòng, trong luận văn này tác giả đề cập đến lý thuyết hai yếu tố của Frederick Herzberg - một nhà tâm lí học quan tâm đến mối tương quan giữa sự hài lòng của nhân viên và động lực làm việc. Lý thuyết này là một trong những lý thuyết được sử dụng phổ biến nhất trong việc thỏa mãn yêu cầu nghiên cứu (Dion, 2006). Nhiều nhà nghiên cứu đã sử dụng lý thuyết này như một lý thuyết khung để kiểm tra sự hài lòng như (Kacel et al.
Năm 1959, Herzberg, Mausner và Snyderman công bố mô hình hai yếu tố về động lực làm việc và phát triển lý thuyết động lực - duy trì (motivation - hygiene theory) bị ảnh hưởng bởi hệ thống phân cấp nhu cầu của Maslow (Jones, 2011). Herzberg đã tạo ra một mô hình của các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ của mọi người đối với tổ chức. Ban đầu Herzberg và các cộng sự của ông đã phát triển một giả thuyết cho rằng sự hài lòng và sự không hài lòng với một tổ chức bị ảnh hưởng bởi hai bộ yếu tố khác nhau và do đó sự hài lòng và sự không hài lòng không thể được đo lường một cách đáng tin cậy trên cùng một thang đo (Herzberg et al. Dựa theo dữ liệu nghiên cứu trước đó, giả thuyết ban đầu của Herzberg đã được 9 điều chỉnh lại và sau đó được thay đổi thành lý thuyết hai yếu tố về sự hài lòng trong tổ chức.
Hai yếu tố có ảnh hưởng đến sự hài lòng trong tổ chức được chia thành hai bộ danh mục. Loại đầu tiên là liên quan đến “nhu cầu phát triển hoặc tự hiện thực hóa” hay được gọi là yếu tố động lực. Các yếu tố động lực bao gồm các nhân tố: thành tích; công nhận; bản thân tổ chức; trách nhiệm; thăng tiến; và khả năng phát triển (Herzberg, 1966; Herzberg, 2003). Loại yếu tố khác có liên quan đến “nhu cầu tránh cảm giác khó chịu” hay được gọi là yếu tố duy trì.
Yếu tố duy trì bao gồm các nhân tố: chính sách và quản trị của doanh nghiệp; mối quan hệ với lãnh đạo; mối quan hệ với đồng nghiệp; điều kiện làm việc; và tiền lương (Herzberg, 1966; Herzberg, 2003). Các yếu tố động lực dẫn đến thái độ tích cực trong tổ chức và các yếu tố duy trì bao quanh quá trình thực hiện công việc (Herzberg et al. Hay nói cách khác, yếu tố động lực là gồm những nhân tố làm tăng sự hài lòng, còn yếu tố duy trì là gồm các nhân tố gây ra sự không hài lòng ở nơi làm việc. Cũng theo Herzberg và cộng sự (1959) cho rằng những nhân tố thuộc yếu tố duy trì không làm thúc đẩy nhân viên tăng hiệu suất làm việc, nhưng khi chúng thiếu sót hoặc không đầy đủ, các nhân tố duy trì có thể khiến nhân viên rất không hài lòng.
Khi các nhân tố duy trì không được đáp ứng, nhân viên có cảm giác như thiếu thứ gì đó hoặc mọi thứ không hoàn toàn đúng, sự bất mãn dần xuất hiện và ảnh hưởng tiêu cực đến sự cam kết với tổ chức. Ví dụ, một nhân viên chắc chắn sẽ không vui vẻ, hài lòng và nhanh chóng bất mãn với một tổ chức bị trả lương thấp, bị đe dọa mất việc, đối mặt với những hành vi không chuẩn mực của lãnh đạo hoặc lãnh đạo không có năng lực, bản thân liên tục bị bàn tán và xung quanh chỉ toàn những đồng nghiệp không thân thiện và nếu tình trạng không được cải thiện thì cho dù các nhân tố thuộc yếu tố động lực có làm hài lòng thì cũng không chắc mang đến được sự cam kết với tổ chức của nhân viên đó. Vì vậy, căn cứ vào các luận chứng trên, trong luận văn này tác giả tập trung khai thác vào nhân tố “mối quan hệ với lãnh đạo”, nghiên cứu sâu sự ảnh hưởng của hành vi lãnh đạo nhằm nâng cao sự hài lòng của nhân viên.2 Lý thuyết và các khái niệm về sự cam kết với tổ chức Sự cam kết của nhân viên với tổ chức từ lâu đã trở thành một chủ đề được quan tâm đối với các doanh nghiệp và các nhà nghiên cứu (Meyer, Allen & Smith, 1993; Meyer & Allen, 1991, 1984; Mathieu & Zajac, 1990; Mowday, Porter & Steers, 1982). Một trong những lý do chính cho sự phổ biến của nó là việc các tổ chức xem sự cam kết của nhân viên với tổ chức là một trong những yếu tố quan trọng để cạnh tranh và tồn tại.
Các nhà nghiên cứu Jassawalla và Sashittal (2003); Brooks (2002) và McElroy (2001) cũng cho rằng mức độ cam kết của nhân viên với tổ chức cao là một phần tất yếu trong sự thành công của tổ chức đó. Theo Eisenberg, Monge và Miller (1983), cam kết tổ chức đã được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau. Tuy nhiên, hầu hết các lý thuyết bao gồm ba yếu tố cơ bản sau đây như một phần không thể thiếu trong các định nghĩa, đó là một niềm tin mạnh mẽ và chấp nhận các mục tiêu và giá trị của tổ chức; là sẵn sàng nỗ lực đóng góp cho tổ chức; và một mong muốn mạnh mẽ để luôn luôn duy trì tư cách thành viên trong tổ chức. Nói chung, dù nhiều hay ít, dù cao hay thấp thì mức độ cam kết đã được chứng minh là động lực chính khiến nhân viên ở lại hoặc rời khỏi một tổ chức (Shaw, Delery, Jenkins & Gupta, 1998).
Vào thập niên 90 của thế kỷ XX, hai nhà nghiên cứu Meyer và Allen (1991) mô tả cam kết với tổ chức như một thái độ tâm lý của nhân viên thể hiện sự liên kết giữa nhân viên và tổ chức gồm ba khía cạnh sau: (i) Cam kết tình cảm (affective commitment); (ii) Cam kết liên tục (continuance commitment); (iii) Cam kết quy chuẩn (normative commitment). Mô hình ba thành phần này do Meyer và Allen phát triển đã nghiên cứu thực nghiệm và đã nhận được sự ủng hộ rất lớn trong cộng đồng khoa học. Meyer và Allen (1991) lập luận rằng một trong những lý do quan trọng nhất để phân biệt giữa các hình thức khác nhau của sự cam kết với tổ chức là chúng có những tác động rất khác nhau đối với hành vi của nhân viên. Mặc dù cả ba hình thức đều có xu hướng ràng buộc nhân viên với tổ chức.
Cam kết tình cảm (affective commitment) là sự gắn kết tình cảm của mỗi cá nhân đối với tổ chức, cam kết này là đặc trưng bởi sự liên hệ mật thiết với tổ chức cũng 11 như sự thích thú khi trở thành thành viên của tổ chức (Meyer et al. Trong ba thành phần của cam kết tổ chức thì cam kết tình cảm nhận được sự quan tâm nghiên cứu nhiều nhất. Có nhiều bằng chứng cho thấy rằng cam kết tình cảm có mối tương quan chặt chẽ giữa sự phát triển tình cảm với tổ chức (Mathieu & Zajac, 1990). Cam kết này đề cập đến tình cảm gắn bó của nhân viên, sự tham gia của nhân viên vì mục tiêu của tổ chức.
Theo đó, cam kết tình cảm có ba yếu tố: Niềm tin chấp nhận các mục tiêu và giá trị của tổ chức; sự sẵn sàng để nỗ lực giúp tổ chức đạt được mục tiêu của mình; và mong muốn đạt đến mục tiêu tổ chức. Trong số các kiểu tâm lý gắn kết với doanh nghiệp, sự gắn kết bằng tình cảm của người lao động được các doanh nghiệp mong muốn nhiều nhất và sự gắn kết này cũng mang lại nhiều lợi ích nhất. (ii) Cam kết quy chuẩn (normative commitment) là sự cam kết mà một người tin rằng họ cần ở lại tổ chức để thực hiện các nghĩa vụ. Theo đó cam kết nghĩa vụ như là một “giá trị tổng quát của lòng trung thành và trách nhiệm”, nhân viên cảm thấy buộc phải đáp lại bằng lòng trung thành và cam kết xuất phát từ đạo đức và các nguyên tắc định hướng giá trị dựa trên các chuẩn mực có đi có lại và thực tiễn xã hội (Meyer & Herscovitch, 2001).
Cam kết liên tục "đề cập đến nhận thức về các chi phí liên quan đến rời khỏi tổ chức” (Meyer & Allen, 1991).