CHƯƠNG 1 - KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HN NHÂN HỢP PHAP VÀ HON NHÂN THÁI PHAP LUẬN 1.1 KHÁI NIỆM HÔN NHÂN VÀ HÔN NHÂN HỢP PHÁP 1.1 Khái niệm chung về hôn nhân hợp pháp Quy luật phát triển và sinh tồn của loài người là sự kết hợp giữa người đàn ông và người đàn bà trong quan hệ lứa đôi. Thoạt đầu, sự kết hợp này mang ý nghĩa của việc duy trì và phát triển ndi giống. Đó là cơ sở căn bản đầu tiên hình thành nên quan hệ hôn nhân và cũng từ đó hình thành nên gia đình mang những nét văn minh tiêu biểu của xã hội loài người. Dưới góc độ xã hội học, hôn nhân là mối quan hệ giữ vợ và chồng.
Trong quá trình phát triển của xã hội loài người đã chứng minh rằng không có một tổ chức nào ngoài tổ chức đời sống chung của con người có sự thúc đẩy nội tại trong bản thân mỗi con người để trở thành khát vọng cháy bỏng trong mỗi người con trai và người con gái là tìm gặp nhau, tạo thành một cộng đồng nhỏ là hôn nhân nhằm để thỏa mãn nhu cầu tình cảm sâu kín của các bên, sinh đẻ nhằm đuy trì và phát triển noi giống va cùng nhau chia ngọt sẻ bùi nhằm xây dung gia đình đầm ấm, hạnh phúc. Nam, nữ kết đôi là chuyện tự nhiên trong đời sống nhân loại ngay từ khi loài người xuất hiện. Trải qua hàng triệu năm, việc trai gái tìm nhau và xác lập quan hệ vợ chồng đã được thay đổi dưới bao hình thức khác nhau. Từ thời hoang sơ, khi con người còn chìm ẩn trong bóng tối của sự lạc hậu thì sự kết hợp giữa đàn ông và đàn bà chỉ đơn thuần là quan hệ tính giao nhằm duy tri nòi giống.
Họ chung sống với nhau bừa bãi không có sự chọn lọc về ngòi thứ và cũng không có sự phân biệt về lứa tuổi, huyết tộc. D6 là thời kỳ tôn tai “chế độ tạp hôn bừa bãi”. Cho đến khi con người ý thức rõ về bản thân và các vấn đề về đạo đức thì vấn dé hôn nhân của nam, nữ cũng có sự chuyển bién đáng kể. Chế độ tạp hôn đã chuyển sang chế độ ngẫu hôn- hôn nhân cặp đôi, từng cặp nam, nữ với tư cách là một đơn vị hôn phối được xác lập và tồn tại.
Việc kết hôn đã có sự phân biệt về lứa tuổi và huyết thống. Tuy nhiên, hôn nhân cặp đôi tồn tại hết sức lỏng lẻo và không đủ vững chắc để có thể có những nhu cầu riêng về kinh tế. Hình thức hôn nhân cặp đôi được phát triển hon nữa nhờ có sự thay đổi đáng kể về các điều kiện kinh tế và xã hội vì nó dị trở thành hôn nhân một vợ một chồng. Dần dần, trong sự phát triển tiếp theo của lịch sử, sự kết hợp lứa đôi không chỉ mang ý nghĩa duy tri noi giong mi nó còn là sự kết hợp về mặt tình cảm giữa các bên nam, nữ, từ đó, mục tiêu thoả mãn nhu cầu tình cảm là yêu cầu khách quan, là mục tiêu hàng dầu của nam, nữ khi họ càng nhau xác lập quan hệ hôn nhân.
Tình yêu thương giữa vo và chồng là sức mạnh thúc đảy khiến họ có mong muốn là sản sinh ra thế lịc mới - người sẽ kế tục cho gia đình và dong ho. Từ xa xưa, con người đã quan niệm việc sinh dé con cái là nhằm thoả mãn nhu cầu riêng tư của vợ chồng. Nhưng việc riêng tư đó cũng là nhằm đáp ứng nhu cầu cơ ban của xã hói : nhụ cầu duy trì tính liên tục về mặt sinh học của xã hội là tái tạo ra con người, duy trì nòi giống. Đó chính là quy luật tồn tại và phát triển của loài người theo quy luật phát triển sinh học của nó.
Khi xã hội loài người đã phát triển, hôn nhâu: là quan hệ chịu sự chi phối rất lớn bởi các quy tắc đạo đức và lối sống trong xa hội. Do vậy, hôn nhân không chi là việc riêng tư giữa hai cá nhân mà con li vấn đề mang tính chất xã hội. Khi đôi nam, nữ yêu nhau, họ chưa có trách nhiệm gì, nhưng khi họ kết hôn, họ đã có trách nhiệm đối với nhau, đối với con cái và đối với xã hội.Lênin nói : “ “Trong tình yêu có hai người, và xuất hiện cuộc đời mới, cuộc đời thứ ba. Day chính là điều quan tâm củi xí hội và xuất hiện trách nhiệm đối với tập thể””.
Chính vì lế đó mà việc đôi nam, nữ kết hôn cần có sự phê chuẩn và công nhận của xã hội. “Nếu như hôn nhân không phải là cơ sở của gia đình, thì nó cũng sẽ không phải là đối tượng của công việc lập pháp, ví du như tình bạn chang hạn"%. Như vậy, hôn nhân lì co sở của gia đình mà “gia đình là tế bào của xã hội”, đo đó sự phát triển của xã hội phụ thuộc rất lớn vào sự phát triển của từng gia đình mà cơ sở chủ yếu của nó là hôn nhân. Dưới xã hội có phân chia giai cấp, hôn nhân mang tính giai cấp sâu sắc.
Trong mỗi chế độ xã hội khác nhau, giai cấp thống trị luôn diiny pháp luật và bằng pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân sao cho phù hợp với ý chí của giai cấp mình và phục vụ lợi ích của giai cấp mình. Tính chất của hôn nhân sẽ thay đổi phụ thuộc vào cơ sở kinh tế đang thống trị xã hội. Nhu vậy, hôn nhân rõ ràng không chỉ là một quan hệ xã hội đơn thuân mà nó còn được coi là một quan hệ xã hội có tính giai cấp. Chính vì thế mà khi có Nhà nước và pháp luật thì mỗi quốc gia dt quy định những điều kiện kết hôn khi: nhau, song đều đặt ra hệ thống các quy phạm pháp luật để điều chỉnh quan In hôn nhân cho phù hợp với lợi ích và sự phát triển của quốc gia mình.
Dù có những lợi ích riêng và hệ thống pháp luật khác nhau, nhưng nhìn chung tron thời đại ngày nay tất cả các quốc gia khi điều chỉnh quan hệ hôn nhân cũn:' đều có nét chung là quy định quyền và nghia vụ cho vợ chồng đối với nhau đối với gia đình, đối với Nhà nước và đối với xã hội. Hôn nhân mà phù hoy: với quy định của pháp luật thì được coi là hợp pháp. Xét đưới góc độ luật học, hôn nhân hợp pháp được hiểu là sự liên kết giữa người đàn ông và người đàn bà, phù hợp với pháp luật, được Nhà nước thừa nhận và bảo hộ.2 Hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật Việt Nam al Hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luát phong kiến Ở nước ta, theo cổ luật thì hôn nhân đã được coi là một trong những quan hệ xã hội cần được điểu chỉnh. Trong cổ luật Việt Nam, hôn nhăn (pia thú) được coi như một việc cốt lõi là nền tảng của gia đình.
Gia đình chiếm một địa vi vô cùng quan trọng, vì theo Khổng giáo thì cần phải “tế gia” trước khi nghĩ đến vấn đề “trị quốc” và “bình thiên hạ”. Giá thú không được các nhà làm luật định nghĩa rõ ràng trong cổ luật, nhưng nó đã được ghi rõ trony sách Lé ký tại thiên Hôn nghĩa: “Lễ hôn tương hợp sự giao hiếu giữa hai họ, trên de thờ phụng tổ tiên trong tông miếu (tức nhà thờ họ), đưới để kế truyền đồng dõi đời sau, vì vậy hôn lễ được người quân tử trọng””, Định nghĩa này dã cho chúng ta thấy rõ quan niệm xưa về giá thú. Giá thú được đặt trên nền tảng của đại gia đình, trước hết là sự giao kết giữa hat họ bên nam và bên nữ mà mục tiêu trên hết là để nối theo truyền thống của tổ tiên, sau đó là để sinh con nối đõi tông đường và cũng chính là tiếp tục lun truyền việc thờ cúng. Với tnh thần đó, các Bộ luật cổ đều có những quy định về điều kiện xác lập piá thú phù hợp với lợi ích của dai gia đình và do đó lợi ích riêng của những người kết hôn hầu như bị quên lãng hoặc chỉ là thứ yếu.
Một trong những điều kien xác lập giá thú quan trọng nhằm bảo vệ lợi ích của đại gia đình được cố luật quy ~-he định là sự ưng thuận của cha mẹ và vai trò của người chủ hôn. Điều 314 Bộ luật Hồng Đức (Quốc triều hình luật) quy định: “Người kết hôn mà không đủ sinh lễ đến nhà cha mẹ [người con gái] (chú giải của tác gid) (nếu cha mẹ chết cả, thì đem đến nhà người trưởng họ, hay nhà người trưởng làng) để xin, mà thành hôn với nhau một cách cẩu thả thì phải biếm 1 tu và theo lệ sang hén, bắt phải nộp tiền tạ cho cha mẹ (nếu cha mẹ chết cả thì nộp cho trưởng họ hay người trưởng làng), người con gái phải phạt 50 roi". Mặc dù đây chỉ là diều kiện về lễ nghi, song về mặt nào đó xét theo khía cạnh xã hội thì nó cũng chi phối đến điều kiện kết hôn của thời kỳ này. Cùng với điều kiện trên, vì lợi ích của đại gia đình, cổ luật Việt Nam còn quy định: hai vợ chồng phải không có quan hệ thân thích với nhau.
Xét trên phương điện luân thường đạo lý và cơ sở khoa học, vì trật tự gia phong và tương lai sức khoẻ của nồi giống, cổ luật Việt Nam đã quy định các sự cấm đoán rất nghiêm ngặt việc kết hôn giữa các người thân thích. Trong cả hai bộ luật (Luật Hồng Đức và Luật Gia Long) đều cấm kết hôn giữa những người trong cùng một họ, nghĩa là cùng một ông tổ. Diều 100 Luật Gia Long (Hoàng Việt luật lệ) quy định: “phàm những người đồng tinh (cùng họ) (chú giải của tác gid) lấy nhau, thì bị tội 60 trượng và phải ly đị””, Rõ ràng đây là một trong những điều cấm trong hôn nhân mà cổ luật đã điều chỉnh một cách khắt khe nhất. Trong xã hội phong kiến, con chầu phải có hiếu với ông bà, cha mẹ, vợ chồng phải giữ lòng chung thuỷ với nhau, vì vậy, cổ luật đã quy định trong lúc có tang mà làm giá thú là bất hiếu, l.uật Hồng Đức và Luật Gia Long đều cấm kết hôn trong thời kỳ có tang.
Điều 31 Luật Hồng Đức quy định: “Người nào đang có tang cha mẹ hoặc tang chồng mà lại lấy chồng hay cưới vợ thì xử tội đổ, người khác biết mà vẫn cứ kết hôn thì xử biém ba tư và đôi vợ chồng mới cưới phải chia lìa”®. Ngoài ra cũng xuất phát từ đạo hiếu nghĩa mà Luật Hồng Đức và Luật Gia Long còn cấm kết hôn khi cha me bị giam tù.