Khóa luận: Tội chống người thi hành công vụ theo BLHS 2015 - ĐH Luật Hà Nội

Khóa luận tốt nghiệp luật học về tội chống người thi hành công vụ theo Bộ luật Hình sự 2015. Phân tích cấu thành tội phạm và thực tiễn áp dụng.

Chuyên ngành

Luật Hình sự

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2025

97
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về tội chống người thi hành công vụ theo BLHS năm 2015

Khóa luận tốt nghiệp luật học về tội chống người thi hành công vụ phân tích toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn áp dụng Điều 330 Bộ luật Hình sự năm 2015. Đề tài làm rõ bản chất pháp lý của hoạt động công vụ cùng vị thế của người thực hiện nhiệm vụ. Nghiên cứu xác định các yếu tố cấu thành tội phạm, bao gồm khách thể, chủ thể, mặt khách quan và mặt chủ quan. Khách thể trực tiếp bị xâm hại là trật tự quản lý hành chính nhà nước. Mặt khách quan biểu hiện qua các hành vi dùng vũ lực, đe dọa vũ lực hoặc cản trở chấp hành công vụ. Nghiên cứu so sánh quy định pháp luật Việt Nam với kinh nghiệm lập pháp quốc tế tại Đức, Uzbekistan và Trung Quốc. Việc nghiên cứu đề tài mang tính cấp thiết trong bối cảnh các vụ việc vi phạm pháp luật gia tăng phức tạp. Hoàn thiện hệ thống lý luận giúp nâng cao hiệu quả bảo vệ lực lượng thi hành công vụ. Công trình tạo nền tảng khoa học vững chắc cho sinh viên luật và cán bộ tư pháp. Đề tài đóng góp thiết thực vào công tác xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

1.1. Khái niệm và đặc điểm pháp lý của công vụ

Công vụ là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước do cán bộ, công chức thực hiện theo quy định pháp luật. Mục tiêu nhằm phục vụ lợi ích công cộng và duy trì trật tự xã hội. Người thi hành công vụ được pháp luật trao quyền và bảo đảm thực hiện nhiệm vụ. Hoạt động công vụ có tính tổ chức chặt chẽ, tuân thủ trình tự luật định. Mọi hành vi cản trở bất hợp pháp đều xâm phạm trực tiếp đến uy tín của cơ quan nhà nước. Tội chống người thi hành công vụ có tính chất nguy hiểm cho xã hội cao. Hành vi phạm tội cản trở việc thực hiện quyền lực công, gây mất ổn định an ninh trật tự. Việc hiểu rõ khái niệm công vụ là tiền đề định tội chính xác.

1.2. Kinh nghiệm quốc tế về quy định xử lý hành vi chống đối công vụ

Pháp luật hình sự nhiều nước trên thế giới quy định chặt chẽ về tội chống người thi hành công vụ. Bộ luật Hình sự Đức bảo vệ người thi hành công vụ và người hỗ trợ qua các chế tài nghiêm khắc. Pháp luật Uzbekistan phân tách rõ ràng trách nhiệm giữa việc cản trở người đại diện chính quyền và người thực hiện nghĩa vụ dân sự. Bộ luật Hình sự Trung Quốc quy định cụ thể tại Điều 277 với kỹ thuật lập pháp liệt kê chi tiết từng trường hợp. Việc nghiên cứu mô hình lập pháp quốc tế cung cấp góc nhìn đa chiều cho Việt Nam. Các bài học kinh nghiệm hỗ trợ việc hoàn thiện kỹ thuật lập pháp hình sự. Đồng thời, các chuẩn mực quốc tế giúp nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội phạm trong giai đoạn mới.

II. Thực trạng áp dụng tội chống người thi hành công vụ theo BLHS 2015

Thực tiễn xét xử tội chống người thi hành công vụ giai đoạn 2020-2024 cho thấy diễn biến phức tạp với tính chất manh động ngày càng tăng. Thống kê từ hệ thống Tòa án nhân dân các cấp ghi nhận hàng nghìn vụ án được đưa ra xét xử công khai. Đối tượng tác động chủ yếu là lực lượng Cảnh sát giao thông, Công an trật tự và cán bộ thi hành án. Các hành vi chống đối thường xảy ra khi đối tượng vi phạm trật tự an toàn giao thông hoặc kiểm tra nồng độ cồn. Quá trình áp dụng pháp luật bộc lộ nhiều khó khăn trong việc phân định ranh giới giữa tội phạm hình sự và vi phạm hành chính. Điển hình là sự chồng chéo giữa Điều 330 BLHS 2015 và Điều 21 Nghị định 144/2021/NĐ-CP. Ngoài ra, việc xác định lỗi cố ý hoặc vô ý khi gây thiệt hại tài sản trong khi thi hành nhiệm vụ còn thiếu sự đồng nhất giữa các cấp Tòa án. Nhiều bản án gặp vướng mắc khi định tội danh độc lập hay kết hợp với tội hủy hoại tài sản.

2.1. Phân biệt tội phạm hình sự và vi phạm hành chính

Việc phân định ranh giới giữa tội phạm và vi phạm hành chính là vấn đề phức tạp trong thực tiễn tư pháp. Điều 330 Bộ luật Hình sự 2015 quy định hành vi dùng vũ lực, đe dọa vũ lực hoặc thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ. Trong khi đó, Điều 21 Nghị định 144/2021/NĐ-CP xử phạt các hành vi cản trở, chống đối ở mức độ chưa cấu thành tội phạm. Ranh giới giữa mức độ cản trở thông thường và hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa được lượng hóa chi tiết. Điều này dẫn tới sự lúng túng cho cơ quan tiến hành tố tụng ở cấp cơ sở. Một số vụ việc có dấu hiệu hình sự nhưng chỉ bị xử lý hành chính hoặc ngược lại.

2.2. Vấn đề định tội danh và tổng hợp hình phạt trong xét xử

Thực tiễn xét xử nảy sinh nhiều vướng mắc khi xác định tội danh kết hợp. Trường hợp người phạm tội chống đối lực lượng chức năng đồng thời làm hư hỏng công cụ, phương tiện công vụ thường gây tranh luận. Việc định tội danh độc lập theo Điều 330 hay truy cứu thêm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản phụ thuộc vào ý thức chủ quan của người phạm tội. Nếu thiệt hại tài sản xảy ra do lỗi vô ý trong quá trình giằng co, hành vi được thu hút vào tình tiết định khung tại khoản 2 Điều 330. Ngược lại, nếu đối tượng cố ý hủy hoại tài sản nhằm mục đích trả thù, việc khởi tố hai tội danh độc lập là bắt buộc.

III. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về tội chống người thi hành công vụ

Để nâng cao hiệu lực bảo vệ người thi hành công vụ, các giải pháp lập pháp và thực thi cần được triển khai đồng bộ. Cơ quan có thẩm quyền cần sớm ban hành văn bản hướng dẫn áp dụng thống nhất Điều 330 BLHS 2015. Việc giải thích chi tiết các thuật ngữ như “dùng vũ lực”, “đe dọa dùng vũ lực” và “thủ đoạn khác” là yêu cầu cấp thiết. Điều này giúp loại bỏ sự tùy nghi khi đánh giá tính chất hành vi vi phạm. Đồng thời, công tác phối hợp liên ngành giữa Công an, Viện kiểm sát và Tòa án cần được củng cố chặt chẽ. Lực lượng thi hành nhiệm vụ cần được trang bị đầy đủ công cụ hỗ trợ hiện đại và thiết bị ghi hình khi làm nhiệm vụ. Công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật đến người dân phải thực hiện thường xuyên. Việc nâng cao ý thức thượng tôn pháp luật giúp hạn chế các xung đột không đáng có giữa người dân và cán bộ công quyền.

3.1. Hoàn thiện kỹ thuật lập pháp và văn bản hướng dẫn tư pháp

Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cần ban hành Nghị quyết hướng dẫn áp dụng Điều 330 Bộ luật Hình sự. Nội dung hướng dẫn cần xác định rõ tiêu chí phân biệt giữa tội phạm và hành vi vi phạm hành chính. Các quy định về tình tiết tăng nặng định khung, như "tái phạm nguy hiểm" hoặc "xúi giục, lôi kéo người khác", cần được diễn giải chuẩn xác. Việc cụ thể hóa các trường hợp xử lý khi có hậu quả tổn hại sức khỏe hoặc tài sản giúp tránh bỏ lọt tội phạm. Hệ thống văn bản hướng dẫn minh bạch là cơ sở để các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng pháp luật thống nhất, công bằng.

3.2. Nâng cao năng lực và điều kiện thực thi công vụ thực tế

Bên cạnh giải pháp lập pháp, các cơ quan chức năng cần chú trọng đào tạo kỹ năng xử lý tình huống cho lực lượng thi hành công vụ. Cán bộ thực thi cần giữ vững thái độ chuẩn mực, bình tĩnh và đúng quy trình pháp luật khi tiếp xúc với đối tượng có hành vi kích động. Việc trang bị đầy đủ camera nghiệp vụ, thiết bị ghi âm giúp lưu trữ bằng chứng khách quan phục vụ công tác điều tra. Đồng thời, các cơ quan tư pháp cần đẩy mạnh xét xử lưu động các vụ án chống người thi hành công vụ điển hình. Biện pháp này mang lại hiệu quả răn đe, giáo dục ý thức chấp hành pháp luật sâu rộng trong quần chúng nhân dân.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn của khóa luận tốt nghiệp luật học

Khóa luận tốt nghiệp về tội chống người thi hành công vụ theo Bộ luật Hình sự năm 2015 mang lại giá trị khoa học và thực tiễn sâu sắc. Công trình hệ thống hóa toàn diện các luận cứ lý thuyết về bảo vệ trật tự quản lý hành chính nhà nước. Kết quả nghiên cứu làm sáng tỏ các dấu hiệu pháp lý cấu thành tội phạm và những vướng mắc phát sinh từ thực tiễn xét xử. Các đề xuất hoàn thiện quy phạm pháp luật hình sự có tính khả thi cao, đóng góp vào quá trình xây dựng luật. Công trình là tài liệu tham khảo giá trị cho sinh viên ngành luật trong quá trình học tập và nghiên cứu chuyên sâu. Đồng thời, nghiên cứu cung cấp tài liệu nghiệp vụ hỗ trợ các điều tra viên, kiểm sát viên và thẩm phán trong công tác định tội danh. Việc vận dụng đúng đắn các kết quả nghiên cứu góp phần bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật và bảo vệ an toàn cho lực lượng thực thi công vụ.

4.1. Ý nghĩa học thuật đối với sinh viên chuyên ngành luật

Khóa luận tốt nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao tư duy pháp lý của sinh viên luật. Quá trình thực hiện đề tài rèn luyện phương pháp nghiên cứu khoa học, phân tích án văn và đối chiếu so sánh luật học. Sinh viên nắm vững phương pháp xác định cấu thành tội phạm và cách thức lập luận trong tố tụng hình sự. Đề tài mở rộng góc nhìn về mối quan hệ giữa lý luận lập pháp và áp dụng pháp luật trong đời sống thực tế. Đây là hành trang kiến thức giá trị giúp người học phát triển các kỹ năng chuyên môn trước khi bước vào các vị trí nghề nghiệp trong hệ thống tư pháp.

4.2. Giá trị tham khảo thực tiễn trong công tác tư pháp

Các giải pháp đề xuất trong khóa luận cung cấp góc nhìn thực tiễn hữu ích cho các cơ quan tiến hành tố tụng. Việc phân tích cụ thể các bản án mẫu giúp thẩm phán và kiểm sát viên có thêm nguồn tư liệu tham khảo khi định tội danh phức tạp. Tài liệu hỗ trợ giảm thiểu các sai sót nghiệp vụ, tránh làm oan người vô tội hoặc bỏ lọt tội phạm nguy hiểm. Đồng thời, các kiến nghị lập pháp là căn cứ gợi mở cho các cơ quan chuyên trách trong quá trình sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự. Nghiên cứu khẳng định sự cần thiết của việc xây dựng môi trường thực thi công vụ an toàn và văn minh.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

14/06/2026
Khóa luận tốt nghiệp luật học tội chống người thi hành công vụ theo quy định của bộ luật hình sự năm 2015

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Những vấn đề chung về Tội chống người thi hành công vụ. Quy định của BLHS năm 2015 về Tội chống người thi hành công vụ. Thực tiễn áp dụng quy định của BLHS năm 2015 và một số đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật hình sự, nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật hình sự đối với Tội chống người thi hành công vụ.

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ 1. Những khái niệm liên quan đến tội chống người thi hành công vụ 1. Khái niệm về công vụ Khái niệm “công vụ” được sử dụng ở nhiều quốc gia khác nhau, khái niệm này có tính tương đối do phụ thuộc vào cách tiếp cận của mỗi quốc gia cũng như đặc điểm của mỗi hệ thống pháp luật. Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau nhưng đa phần đều cho rằng hoạt động “công vụ” có ý nghĩa chi phối và ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả, hiệu lực quản lý của nhà nước1.

Theo nhiều tác giả, có hai cách tiếp nhận khái niệm “công vụ”: (i) Theo nghĩa hẹp; (ii) Theo nghĩa rộng. Trước hết, đến với cách tiếp cận khái niệm “công vụ” theo nghĩa hẹp. Các nhà khoa học tiếp cận khái niệm này theo nghĩa hẹp đều đặt ra giới hạn nhất định về: (i) chủ thể thực hiện công vụ hoặc (ii) phạm vi hoạt động công vụ. Đầu tiên, Giáo trình Hành chính công của Học viện hành chính quốc gia đã viết như sau: “Công vụ là một hoạt động mang tính quyền lực và pháp lý được thực thi bởi đội ngũ công chức nhằm thực hiện các chức năng của nhà nước trong quá trình quản lý toàn diện các mặt của đời sống xã hội”.

Quan điểm này đã chỉ ra ba khía cạnh cần chú ý của hoạt động công vụ, bao gồm: (i) tính quyền lực-pháp lý của hoạt động công vụ, (ii) chủ thể thực hiện công vụ là công chức và (iii) mục đích của hoạt động công vụ là để quản lý mọi mặt của xã hội. Quan điểm này đã giới hạn chủ thể thực hiện công vụ là công chức. Quan điểm khác tiếp cận khái niệm “công vụ” theo nghĩa hẹp và được rất nhiều các nhà khoa học khác ở Việt Nam đồng tình là quan điểm của GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa, theo đó: “Công vụ là hoạt động theo đúng pháp luật của chủ thể được cơ quan nhà nước giao nhằm thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước bao gồm quản lý hành chính, tố tụng hoặc thi hành án”2. Quan điểm này đã giới hạn phạm vi hoạt động công vụ bao gồm ba lĩnh vực chính: Quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án.

Đến với cách tiếp cận khái niệm “công vụ” theo nghĩa rộng. Trong nghiên cứu của mình, thay vì sử dụng khái niệm “công vụ”, tác giả Phạm Hồng Thái đã sử dụng khái niệm “công vụ nhà nước” để giải thích như sau: “Các hoạt động của mọi cơ quan nhà 1 Trần Anh Tuấn, Bàn về khái niệm công vụ trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, http://caicachhanhchinh.TS Nguyễn Ngọc Hòa (2012), Vấn đề thi hành công vụ và chế định phòng vệ chính đáng trong luật hình sự Việt Nam, Tạp chí luật học, số 2, tr. 5 nước, mọi cán bộ, công chức, viên chức, những người làm hợp đồng trong các cơ quan, tổ chức nhà nước, kể cả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp (bệnh viện, trường học, viện nghiên cứu của nhà nước, cơ quan bảo chỉ, phát thanh truyền hình. đơn vị quân đội nhân dân, các cơ quan, đơn vị công an nhân dân là hoạt động công vụ nhà nước”.

Hay như TS.Trần Minh Hưng3 thì “Hoạt động công vụ” là “Hoạt động được tiến hành trên cơ sở pháp luật nhằm thực hiện các chức năng của Nhà nước vì lợi ích xã hội, lợi ích nhà nước, lợi ích chính đáng của các tổ chức và cá nhân. Hoạt động công vụ là hoạt động có tính tổ chức cao, được tiến hành thường xuyên, liên tục theo trật tự do pháp luật quy định trên cơ sở sử dụng quyền lực nhà nước và được bảo đảm bằng quyền lực nhà nước. Hoạt động công vụ chủ yếu do đội ngũ công chức chuyên nghiệp thực hiện”. Khái niệm công vụ theo quan điểm được xây dựng trên cơ sở bản chất của nhà nước Việt Nam - nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, do Nhân dân làm chủ.

Do vậy, phạm vi hoạt động của nhà nước là tương đối rộng, bao trùm toàn bộ các lĩnh vực của xã hội. Và để thực hiện được các nhiệm vụ này, quyền lực của nhà nước được trao cho những người có thẩm quyền thực hiện và đảm bảo thực hiện. Những người có thẩm quyền này có thể là những chủ thể khác nhưng chủ yếu là công chức chuyên nghiệp thực hiện công vụ. Theo Tạp chí luật Yale, tác giả Léon Duguit trong bài viết “The concept of public service” (Khái niệm của công vụ), đã sử dụng cụm từ “public service” (công vụ) để chỉ những hoạt động vì lợi ích chung, có tầm quan trọng đối với toàn thể cộng đồng mà những người có thẩm quyền (thuộc nhà nước) có nghĩa vụ phải đảm bảo thực hiện một cách liên tục, thậm chí sử dụng vũ lực để thực hiện nếu cần thiết để dịch vụ công không bị gián đoạn4.

Theo ông, hoạt động của nhà nước là sự kết hợp của tất cả các dịch vụ công, được hình thành, điều chỉnh, chỉ đạo và kiểm soát bởi những người có thẩm quyền. Khác với xã hội trước kia, khi mà các hoạt động của nhà nước chỉ giới hạn trong ba nhiệm vụ chính, bao gồm: Mở rộng lãnh thổ (bằng các cuộc chiến tranh); bảo vệ đất nước, lãnh thổ khỏi các cuộc chiến tranh; giữ gìn trật tự, duy trình sự yên bình, ổn định của người dân bằng pháp luật thì hiện nay, người ta đã thừa nhận rằng nhà nước có nhiệm vụ rộng hơn, nhiều hơn, chẳng hạn như: Vận chuyển công cộng, dịch vụ bưu 3 Giáo trình Luật hành chính, Đại học Luật Hà Nội, 229. 4 Léon Duguit (1923), “The concept of public service”, Léon Duguit, The Yale Law Journal, tr. 6 chính và điện báo, điện năng, giáo dục và một loạt các hoạt động khác nhau khác.

Các nhiệm vụ mới này xuất phát từ sự phát triển, thay thế liên tục của các nền kinh tế trong nước và sự nhận thức của những người thẩm quyền về tầm quan trọng của việc phát triển trí tuệ, đạo đức cá nhân trong đất nước5. Do vậy, công vụ không chỉ là khái niệm để chỉ quyền lực nhà nước mà còn là khái niệm chỉ những hoạt động vì mục đích công cộng khác do nhà nước thực hiện. Nói cách khác, với cách hiểu công vụ theo nghĩa rộng, nhà nước không chỉ có quyền ra mệnh lệnh-chỉ đạo mà còn có nghĩa vụ thực hiện các hoạt động vì mục đích công cộng. Và để đảm bảo những hoạt động công này được thực hiện chỉnh chu, nhà nước có quyền sử dụng mệnh lệnh để bắt buộc các chủ thể trong xã hội thực hiện theo.

Trong trường hợp những người thực hiện nhiệm vụ nhân danh nhà nước gặp phải sự chống đối, kháng cự từ các chủ thể khác trong xã hội thì họ có quyền sử dụng vũ lực, cưỡng chế, yêu cầu người không thực hiện, không tuân thủ phải thực hiện, tuân thủ. Thông qua việc tìm hiểu các quan điểm khác nhau về công vụ, tác giả nhận thấy cách hiểu “công vụ” theo nghĩa rộng là cách hiểu toàn diện, khách quan và thuyết phục nhất. Theo đó, tác giả đưa ra định nghĩa như sau: “Công vụ là hoạt động vì lợi ích xã hội, lợi ích nhà nước, lợi ích chính đáng của các tổ chức và cá nhân, được thực hiện thường xuyên, liên tục và được đảm bảo thực hiện bởi các chủ thể có thẩm quyền theo quy định pháp luật thông qua việc sử dụng quyền lực nhà nước”. Khái niệm về người thi hành công vụ Theo quan điểm của một số nhà khoa học nước ngoài, người thi hành công vụ được phân loại thành “Public sevant” (Người làm việc cho nhà nước), “Civil servant” (Công chức trung ương)6, một số nhà nghiên cứu khác lại gọi chung nhóm người này là “Public sevant”7.

Trong một số nghiên cứu khác, thuật ngữ “law enforcement officer” (người thực thi pháp luật) được dùng để chỉ riêng những người người chịu trách nhiệm duy trì an toàn công cộng và thực thi pháp luật, nhiệm vụ của họ là phòng ngừa, điều 5 Léon Duguit (1923), “The concept of public service”, Léon Duguit, The Yale Law Journal, tr. 6 Ở các quốc gia sử dụng ngôn ngữ Anh, có một số nghiên cứu chỉ ra rằng có sự khác biệt giữa các thuật ngữ “public sevant”, “civil servant”. Theo đó, thuật ngữ “public servant” thường để chỉ những người được bổ nhiệm bởi các thành viên của chính phủ để phục vụ nhân dân và thực hiện những hoạt động của Nhà nước (Ví dụ: Lính cứu hỏa, quân nhân, nhân viên hành chính, cảnh sát. Thuật ngữ “Civil servant” thường để chỉ những người được bổ nhiêm/được thuê bởi chính phủ để làm việc trong các cơ quan hành chính trung ương (Ví dụ: Các nhà ngoại giao, thư ký quốc hội, Viện trưởng viện kiểm sát cấp trung ương,.

Xem thêm tại: https://www.com/learn/administrative-law/publicservice 7 Theoretical understandings of the concept of a ‘public servant’ towards a common definition 7 tra, truy tố hoặc xét xử hành vi phạm tội,.8 Để tránh sự khác biệt khi sử dụng các thuật ngữ nước ngoài, tác giả sẽ sử dụng thuật ngữ “người thi hành công vụ” để nói chung và phân tích những quan điểm khác nhau. Tương tự như khái niệm “công vụ”, khái niệm “người thi hành công vụ” là một khái niệm khó để định nghĩa, được tiếp cận theo 02 cách: (1) Theo nghĩa rộng, (2) Theo nghĩa hẹp. Thứ nhất, cách tiếp cận khái niệm “người thi hành công vụ” theo nghĩa rộng. Thông qua nghiên cứu, tác giả nhận thấy Weber - nhà khoa học người Đức đầu tiên đặt nền móng cho việc tiếp cận quan điểm “người thi hành công vụ” theo nghĩa rộng.

Theo ông, những người thi hành công vụ là những người làm việc trong bộ máy hành chính nhà nước, có trách nhiệm tuân thủ các nhiệm vụ được giao, được bổ nhiệm theo hệ thống phân cấp, có năng lực, trình độ chuyên môn, thi tuyển qua các kỳ thi và được trả lương dựa vào cấp bậc và nhiệm vụ theo vị trí, thứ bậc. Tương tự với Weber, các nhà khoa học khác bổ sung rằng vai trò của những chủ thể này là phục vụ nhà nước một cách chuyên nghiệp, lâu dài và vai trò này bị ràng buộc bởi các “hợp đồng luật công”, khác so với những người bị ràng buộc bởi “hợp đồng luật tư”9.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ