Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam, các quy phạm pháp luật bảo vệ hoạt động thi hành công vụ đã được ghi nhận từ sớm nhằm bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của lực lượng thực thi nhiệm vụ công. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng pháp luật vẫn phát sinh nhiều bất cập do các quy phạm pháp luật hình sự và các văn bản quy phạm liên quan chưa định nghĩa thống nhất, rõ ràng khái niệm "công vụ" cũng như "người thi hành công vụ". Sự thiếu nhất quán này dẫn đến vướng mắc trong các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm. Trước bối cảnh các hành vi chống đối người thi hành công vụ diễn biến phức tạp cả về tính chất lẫn mức độ nguy hiểm, khóa luận tốt nghiệp "Tội chống người thi hành công vụ theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015" của tác giả Nguyễn Quỳnh Hoa (Trường Đại học Luật Hà Nội, 2025; người hướng dẫn khoa học: TS. Mai Thị Thanh Nhung) được thực hiện nhằm làm rõ cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng áp dụng quy định pháp luật hình sự và đề xuất các giải pháp hoàn thiện.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu:
Mục đích nghiên cứu của đề tài là hệ thống hóa cơ sở lý luận, phân tích các quy định pháp luật thực định về tội chống người thi hành công vụ, đánh giá thực tiễn xét xử giai đoạn 2020 - 2024, từ đó đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng Điều 330 Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015. Khóa luận xác định 05 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Phân tích và làm rõ một số khái niệm lý luận liên quan đến tội chống người thi hành công vụ ("công vụ", "người thi hành công vụ", khái niệm và đặc điểm tội danh).
- Nghiên cứu kinh nghiệm lập pháp hình sự về tội chống người thi hành công vụ của một số quốc gia (Đức, Uzbekistan, Trung Quốc).
- Phân tích các dấu hiệu pháp lý cấu thành tội phạm, các tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự và chế tài hình phạt quy định tại Điều 330 BLHS năm 2015; phân biệt với các tội phạm liên quan và vi phạm hành chính.
- Phân tích, đánh giá thực tiễn xét xử tội chống người thi hành công vụ trên phạm vi cả nước giai đoạn 2020 - 2024 qua số liệu của Tòa án nhân dân tối cao và các bản án điển hình, chỉ ra nguyên nhân của vướng mắc, hạn chế.
- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật hình sự và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật đối với tội danh này.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Lý luận, quy định pháp lý và thực tiễn xét xử tội chống người thi hành công vụ trong BLHS năm 2015; số liệu thống kê xét xử của Tòa án nhân dân tối cao và các bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật.
- Phạm vi nghiên cứu: Khóa luận tiếp cận dưới góc độ luật hình sự thực định Việt Nam (trọng tâm là Điều 330 BLHS năm 2015) và thực tiễn xét xử của hệ thống Tòa án trên phạm vi toàn quốc trong khoảng thời gian 05 năm (từ năm 2020 đến năm 2024).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết, khái niệm và văn bản pháp luật áp dụng:
- Hệ thống văn bản pháp luật Việt Nam: BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), đặc biệt là khoản 1 Điều 8 (khái niệm tội phạm), Điều 330 (tội chống người thi hành công vụ), Điều 178 (tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản), Điều 53 (tái phạm, tái phạm nguy hiểm) và các điều luật quy định tình tiết định khung liên quan (Điều 123, 133, 134, 148, 149, 155, 156, 157); Nghị quyết số 04-HĐTPTANDTC/NQ ngày 29/11/1986; Nghị quyết số 02/HĐTP/NQ ngày 05/01/1986; Công văn số 45/TANDTC-PC ngày 30/3/2020 của TAND tối cao; Nghị định số 208/2013/NĐ-CP; Nghị định số 144/2021/NĐ-CP (Điều 21); Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 (Điều 3).
- Luật hình sự nước ngoài: BLHS Cộng hòa Liên bang Đức (các điều 11, 113, 114, 115); BLHS Cộng hòa Uzbekistan (Điều 219); BLHS nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (Điều 277).
- Quan điểm học thuật: Các công trình nghiên cứu, giáo trình và bình luận khoa học của GS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa, TS. Lê Đăng Doanh, PGS.TS. Cao Thị Oanh, TS. Nguyễn Kim Chi, TS. Đỗ Đức Hồng Hà, TS. Trần Minh Hưng, GS. Phạm Hồng Thái cùng các tác giả nước ngoài như Léon Duguit, Max Weber, Pusic, Borković.
Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài được thực hiện dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành:
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Hệ thống hóa lý luận, phân tích các yếu tố cấu thành tội phạm và các quan điểm học thuật.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: Khảo sát quy định của luật hình sự nước ngoài với pháp luật Việt Nam; đối chiếu Điều 330 BLHS năm 2015 với Điều 21 Nghị định 144/2021/NĐ-CP.
- Phương pháp thống kê: Thu thập, xử lý và phân loại số liệu xét xử sơ thẩm, phúc thẩm trên phạm vi toàn quốc từ năm 2020 đến năm 2024.
- Phương pháp chứng minh: Sử dụng các vụ án hình sự có thật đã được xét xử tại các Tòa án địa phương để kiểm chứng và làm rõ luận điểm pháp lý.
Nguồn dữ liệu:
Dữ liệu sơ cấp và thứ cấp bao gồm báo cáo thống kê công tác xét xử của Tòa án nhân dân tối cao (giai đoạn 2020 - 2024); các bản án hình sự công bố trên Cổng thông tin điện tử Công bố bản án của Tòa án nhân dân (Bản án số 61/2024/HS-PT của TAND tỉnh Lạng Sơn, Bản án số 21/2024/HSST của TAND huyện Đức Cơ - Gia Lai, Bản án số 94/2024/HS-ST của TAND huyện Tam Bình - Vĩnh Long).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Những vấn đề chung về tội chống người thi hành công vụ
Chương 1 tập trung giải quyết các vấn đề mang tính lý luận nền tảng về khái niệm và đặc điểm pháp lý:
- Khái niệm công vụ: Tác giả phân tích hai cách tiếp cận: nghĩa hẹp (giới hạn ở hoạt động của công chức hoặc trong 3 lĩnh vực quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án theo quan điểm của Học viện Hành chính quốc gia và GS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa) và nghĩa rộng (bao quát mọi hoạt động thực hiện chức năng nhà nước và dịch vụ công theo quan điểm của GS. Phạm Hồng Thái, TS. Trần Minh Hưng và Léon Duguit). Tác giả ủng hộ cách hiểu công vụ theo nghĩa rộng.
- Khái niệm người thi hành công vụ: Phân tích quan điểm nghĩa rộng (Weber, Reichard, Rober - dựa trên địa vị công chức, hợp đồng luật công) và nghĩa hẹp (Pusic, Borković - dựa trên quyền lực cưỡng chế nhà nước). Dưới góc độ luật hình sự, tác giả lập luận rằng khái niệm người thi hành công vụ cần hiểu theo nghĩa hẹp, gắn với 03 lĩnh vực (quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án) và được trao quyền thực hiện các hoạt động có tính chất mệnh lệnh - bắt buộc.
- Khái niệm và đặc điểm tội chống người thi hành công vụ: Tác giả xây dựng định nghĩa dựa trên khoản 1 Điều 8 và Điều 330 BLHS năm 2015; làm rõ 04 đặc điểm: tính gây nguy hiểm cho xã hội (tính gây thiệt hại khách quan đối với quan hệ chấp hành - điều hành và tính có lỗi cố ý trực tiếp), tính được quy định trong luật hình sự, tính do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện, và tính phải chịu hình phạt.
- Pháp luật hình sự một số nước:
- Đức: Quy định tại 03 điều luật riêng biệt (Điều 113: chống lại công chức; Điều 114: hành hung; Điều 115: áp dụng với đối tượng ngang hàng như cứu hỏa, y tế khẩn cấp), thể hiện mức độ phân hóa trách nhiệm hình sự cao.
- Uzbekistan: Điều 219 tách bạch đối tượng tác động thành hai nhóm: đại diện chính quyền (bảo vệ trật tự công cộng) và người thi hành nghĩa vụ dân sự (vì lợi ích xã hội).
- Trung Quốc: Điều 277 sử dụng kỹ thuật liệt kê cụ thể các nhóm chủ thể (nhân viên cơ quan nhà nước, đại biểu đại hội nhân dân, nhân viên Chữ thập đỏ trong thiên tai, lực lượng công an, an ninh quốc gia); quy định xử lý hình sự cả hành vi cản trở không dùng vũ lực nhưng gây hậu quả nghiêm trọng đối với lực lượng công an, an ninh.
Chương 2: Quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 về tội chống người thi hành công vụ
Chương 2 làm rõ cấu thành tội phạm và các khía cạnh áp dụng quy phạm:
- Dấu hiệu pháp lý cấu thành tội phạm (Điều 330):
- Khách thể: Trật tự quản lý hành chính của Nhà nước trong ba lĩnh vực quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án. Đối tượng tác động là người thi hành công vụ đang thực hiện nhiệm vụ hợp pháp.
- Mặt khách quan: Hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác nhằm cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật. Hành vi cản trở phải mang tính chủ động, quyết liệt. Hậu quả không phải dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành cơ bản.
- Chủ thể: Bất kỳ người nào từ đủ 16 tuổi trở lên có năng lực trách nhiệm hình sự (chủ thể thường).
- Mặt chủ quan: Lỗi cố ý trực tiếp.
- Các khung hình phạt: Khoản 1 quy định phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Khoản 2 quy định phạt tù từ 02 năm đến 07 năm với 05 tình tiết định khung: (a) Có tổ chức; (b) Phạm tội 02 lần trở lên; (c) Xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội; (d) Gây thiệt hại về tài sản 50.000.000 đồng trở lên; (đ) Tái phạm nguy hiểm.
- Phân biệt với các tội phạm khác: Phân biệt với 05 tội danh có tình tiết tăng nặng "đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân" (Điều 123, 133, 134, 148, 149), 03 tội danh nhằm vào người đang thi hành công vụ (Điều 155, 156, 157) và tội hủy hoại tài sản (Điều 178) dựa trên 02 tiêu chí: thời điểm xâm phạm và động cơ/mục đích/nguyên tắc thu hút tội danh.
- Phân biệt với vi phạm hành chính: Khóa luận so sánh Điều 330 BLHS năm 2015 và Điều 21 Nghị định 144/2021/NĐ-CP:
| Tiêu chí so sánh |
Điều 330 BLHS năm 2015 |
Điều 21 Nghị định 144/2021/NĐ-CP |
| Tên gọi quy định |
Tội chống người thi hành công vụ |
Hành vi cản trở, chống lại việc thanh tra, kiểm tra, kiểm soát của người thi hành công vụ hoặc đưa hối lộ người thi hành công vụ |
| Hành vi mô tả |
Dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác cản trở thực hiện công vụ hoặc ép buộc thực hiện hành vi trái pháp luật. |
- Môi giới, giúp sức trốn tránh kiểm tra (Khoản 1). - Cản trở, không chấp hành; đe dọa, lăng mạ; xúi giục không chấp hành (Khoản 2). - Dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực; gây thiệt hại tài sản; đưa hối lộ (Khoản 3). |
| Chế tài xử lý |
Cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 07 năm. |
Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng; biện pháp khắc phục hậu quả (buộc xin lỗi công khai). |
| Bất cập nhận diện |
Chưa lượng hóa ranh giới mức độ nguy hiểm của hành vi dùng vũ lực/đe dọa dùng vũ lực so với quy định hành chính. |
Có sự trùng lặp về mô tả hành vi "dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực" nhưng chưa có tiêu chí phân định rõ ràng giữa hành chính và hình sự. |
Chương 3: Thực trạng áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 và một số đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật hình sự, nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật hình sự đối với tội chống người thi hành công vụ
Chương 3 tổng kết số liệu xét xử thực tế và đánh giá công tác định tội danh:
Tình hình giải quyết và xét xử giai đoạn 2020 - 2024:
Bảng tổng hợp số vụ án và số bị cáo Tòa án các cấp giải quyết (2020 - 2024):
| Năm |
Số vụ phải giải quyết |
Số vụ đã giải quyết |
Số bị cáo phải giải quyết |
Số bị cáo đã giải quyết |
| 2020 |
440 |
408 |
711 |
668 |
| 2021 |
627 |
543 |
872 |
723 |
| 2022 |
453 |
412 |
745 |
663 |
| 2023 |
407 |
375 |
611 |
567 |
| 2024 |
461 |
427 |
631 |
584 |
| Tổng cộng |
2.388 |
2.165 (Đạt 90,7%) |
3.570 |
3.205 (Đạt 89,8%) |
Bảng thống kê hình phạt chính áp dụng đối với các bị cáo bị xét xử (2020 - 2024):
| Năm |
Số vụ xét xử |
Số bị cáo xét xử |
Cải tạo không giam giữ |
Tù từ 3 năm trở xuống |
Tù trên 3 năm đến 7 năm |
Tù trên 7 năm đến 15 năm |
Hình phạt chính khác |
Cho hưởng án treo |
| 2020 |
376 |
597 |
57 |
438 |
7 |
2 |
2 |
91 |
| 2021 |
518 |
673 |
38 |
505 |
13 |
0 |
1 |
115 |
| 2022 |
393 |
617 |
39 |
451 |
32 |
3 |
2 |
90 |
| 2023 |
363 |
540 |
40 |
380 |
17 |
4 |
2 |
97 |
| 2024 |
405 |
543 |
25 |
376 |
19 |
4 |
2 |
117 |
| Tổng |
2.055 |
2.970 |
199 |
2.150 |
88 |
13 |
9 |
510 |
- Phân tích thực tiễn xét xử:
- Năm 2021 có số lượng vụ án và bị cáo cao nhất (627 vụ phải giải quyết, 872 bị cáo) do ảnh hưởng của việc xử lý nghiêm các hành vi chống đối công tác phòng chống dịch COVID-19 theo hướng dẫn tại Công văn số 45/TANDTC-PC.
- Hình phạt tù có thời hạn từ 3 năm trở xuống chiếm tỷ lệ áp đảo (2.150/2.970 bị cáo bị tuyên phạt).
- Số lượng bị cáo được hưởng án treo có xu hướng tăng vào năm 2024 (117 bị cáo), phản ánh xu hướng phân hóa và khoan hồng trong quyết định hình phạt.
- Thực tiễn định tội danh qua 3 bản án điển hình:
- Bản án số 61/2024/HS-PT (TAND tỉnh Lạng Sơn): Bị cáo H lùi xe cản trở CSGT truy đuổi xe của chồng (chở gỗ không hóa đơn), gây hư hại xe công vụ 68.xxx.xxx đồng. Tòa án áp dụng điểm d khoản 2 Điều 330 BLHS (vô ý gây thiệt hại tài sản trên 50 triệu đồng), xử phạt 01 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
- Bản án số 21/2024/HSST (TAND huyện Đức Cơ, Gia Lai): Bị cáo B giằng co và ném vỡ thiết bị đo nồng độ cồn trị giá 36.xxx.xxx đồng. Tòa án định tội danh độc lập: tội "Chống người thi hành công vụ" (khoản 1 Điều 330 - phạt 06 tháng tù) và tội "Hủy hoại tài sản" (khoản 1 Điều 178 - phạt 09 tháng tù), tổng hợp hình phạt 15 tháng tù.
- Bản án số 94/2024/HS-ST (TAND huyện Tam Bình, Vĩnh Long): Bị cáo C chống đối lực lượng Công an xã và dùng xẻng đập xe mô tô của cán bộ công an gây thiệt hại 2.xxx.xxx đồng. Tòa án xử phạt tội "Chống người thi hành công vụ" (khoản 1 Điều 330 - phạt 01 năm 06 tháng tù) và tội "Cố ý làm hư hỏng tài sản" với tình tiết tăng nặng vì lý do công vụ (điểm e khoản 2 Điều 178 - phạt 02 năm tù), tổng hợp hình phạt 03 năm 06 tháng tù.
Kết quả và đóng góp
Kết quả chính:
- Hệ thống hóa toàn bộ khung lý luận về "công vụ" và "người thi hành công vụ", xác lập cơ sở khoa học để hiểu khái niệm người thi hành công vụ trong luật hình sự theo nghĩa hẹp (gắn liền với quyền lực nhà nước mang tính mệnh lệnh - bắt buộc trong quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án).
- Khảo cứu quy định pháp luật hình sự của Đức, Uzbekistan và Trung Quốc, chỉ ra các kỹ thuật lập pháp có thể tham khảo (tách bạch điều luật theo cấp độ hành vi, quy định đối tượng ngang hàng, bổ sung trường hợp khẩn cấp/thiên tai/dịch bệnh).
- Xử lý và công bố dữ liệu thống kê xét xử toàn quốc giai đoạn 2020 - 2024: Tòa án các cấp đã giải quyết 2.165/2.388 vụ án (90,7%) và xét xử 3.205/3.570 bị cáo (89,8%); làm rõ cơ cấu hình phạt với 2.150 bị cáo nhận mức án từ 3 năm tù trở xuống và 510 bị cáo được hưởng án treo.
- Phân tích ranh giới định tội danh qua các vụ án thực tế, chỉ ra điểm chưa thống nhất giữa Điều 330 BLHS năm 2015 và Điều 21 Nghị định 144/2021/NĐ-CP khi hành vi dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực chưa được lượng hóa ranh giới mức độ nguy hiểm giữa chế tài hành chính và hình sự.
Giải pháp tác giả đề xuất:
- Hoàn thiện các quy định pháp luật hình sự: Ban hành văn bản giải thích áp dụng thống nhất khái niệm "người thi hành công vụ"; hướng dẫn cụ thể tiêu chí định lượng để phân định hành vi chống người thi hành công vụ xử lý hành chính và truy cứu trách nhiệm hình sự; hoàn thiện quy định xử lý hành vi chống đối trong các tình trạng khẩn cấp, thiên tai, dịch bệnh.
- Nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật: Tăng cường tập huấn nghiệp vụ cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong công tác phân định tội danh (đặc biệt giữa Điều 330 với Điều 178, Điều 134); bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng thực thi nhiệm vụ công và cơ quan tư pháp.
Đóng góp của khóa luận:
Khóa luận cập nhật và phân tích dữ liệu xét xử mới nhất (2020 - 2024), khắc phục khoảng trống nghiên cứu của các công trình trước đây vốn chủ yếu dựa trên BLHS năm 1999 hoặc chưa cập nhật các văn bản dưới luật hiện hành (như Nghị định 144/2021/NĐ-CP và Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2017).
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Nghiên cứu giới hạn trong phạm vi tội chống người thi hành công vụ quy định tại Điều 330 BLHS năm 2015 và thực tiễn xét xử 05 năm (2020 - 2024). Khóa luận tập trung vào hệ thống pháp luật Civil law (Đức, Uzbekistan, Trung Quốc) mà chưa so sánh mở rộng với hệ thống Common Law.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục nghiên cứu sâu về cơ chế phối hợp liên ngành giữa xử lý vi phạm hành chính và tố tụng hình sự; nghiên cứu xây dựng các tiêu chí định lượng thương tích dưới 11% đối với người thi hành công vụ trong mối tương quan giữa Điều 134 và Điều 330 BLHS năm 2015.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng sử dụng: Tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Hình sự, Tố tụng hình sự và Tội phạm học; cán bộ thực tiễn tại các cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án nhân dân.
- Nội dung có giá trị tham khảo cao: Bảng so sánh đối chiếu Điều 330 BLHS 2015 với Điều 21 Nghị định 144/2021/NĐ-CP; hệ thống số liệu thống kê xét xử toàn quốc giai đoạn 2020 - 2024; các tiêu chí phân biệt tội chống người thi hành công vụ với tội hủy hoại tài sản (Điều 178) và các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm.
Câu hỏi thường gặp
1. Theo tác giả khóa luận, khái niệm "người thi hành công vụ" trong luật hình sự cần được hiểu theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp?
Tác giả khẳng định trong luật hình sự, khái niệm "người thi hành công vụ" cần được hiểu theo nghĩa hẹp. Người thi hành công vụ phải là người được cơ quan nhà nước có thẩm quyền trao quyền trong 03 lĩnh vực: quản lý hành chính, tố tụng hoặc thi hành án, thực hiện các hoạt động mang tính chất mệnh lệnh - bắt buộc, khác với những người thực hiện công vụ thuần túy mang tính phục vụ công cộng (như nhân viên y tế, giáo viên).
2. Tại sao năm 2021 số lượng vụ án và bị cáo bị xử lý về tội chống người thi hành công vụ lại tăng vọt?
Năm 2021 ghi nhận số vụ án cao nhất (627 vụ) và số bị cáo cao nhất (872 người) trong giai đoạn 2020 - 2024. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ việc gia tăng các hành vi chống đối lực lượng chức năng đang thực thi nhiệm vụ phòng, chống dịch COVID-19, kết hợp với việc áp dụng Công văn số 45/TANDTC-PC của TAND tối cao hướng dẫn xử lý nghiêm tội phạm liên quan đến phòng chống dịch bệnh theo Điều 330 BLHS.
3. Khóa luận chỉ ra bất cập lớn nhất trong việc phân định giữa Điều 330 BLHS năm 2015 và Điều 21 Nghị định 144/2021/NĐ-CP là gì?
Bất cập lớn nhất là cả hai văn bản đều mô tả hành vi "dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực" để cản trở người thi hành công vụ nhưng pháp luật hiện hành chưa có quy định lượng hóa cụ thể ranh giới và mức độ nguy hiểm của hành vi để xác định khi nào xử phạt vi phạm hành chính, khi nào truy cứu trách nhiệm hình sự, dẫn đến nguy cơ tùy nghi khi áp dụng.
4. Khi người phạm tội có hành vi chống đối và đồng thời làm hư hỏng phương tiện của lực lượng chức năng, Tòa án định tội danh như thế nào qua các bản án thực tế?
- Nếu thiệt hại tài sản xảy ra do lỗi vô ý và trị giá từ 50.000.000 đồng trở lên: Tòa án xử lý về tội "Chống người thi hành công vụ" theo tình tiết định khung tăng nặng tại điểm d khoản 2 Điều 330 BLHS (như Bản án số 61/2024/HS-PT).
- Nếu thiệt hại tài sản do lỗi cố ý: Tòa án định thêm tội độc lập "Hủy hoại tài sản" hoặc "Cố ý làm hư hỏng tài sản" theo Điều 178 BLHS (như Bản án số 21/2024/HSST và 94/2024/HS-ST). Nếu hành vi đập phá nhằm trả thù công vụ sau đó, bị cáo bị áp dụng thêm tình tiết tăng nặng định khung "vì lý do công vụ của nạn nhân" theo điểm e khoản 2 Điều 178 BLHS.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Quỳnh Hoa đã phân tích toàn diện các vấn đề lý luận và thực định về tội chống người thi hành công vụ theo quy định của BLHS năm 2015. Thông qua việc tổng hợp số liệu xét xử giai đoạn 2020 - 2024 và phân tích các bản án thực tế, công trình đã chỉ rõ những bất cập trong việc áp dụng pháp luật và phân định ranh giới giữa chế tài hình sự với chế tài hành chính. Các kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng được đề xuất trong khóa luận cung cấp cơ sở tham khảo khoa học và thực tiễn có giá trị cho công tác lập pháp cũng như hoạt động xét xử của ngành Tòa án.