Chương 1: Quan lý quá trình tiến hành sản xuất kinh doanh của các loại hình doanh nghiệp. Chương 2: Quản lý Nhà nước về kinh tế và vai trò của pháp luật kinh te. Chương 3: Mối liên hệ giữa quản lý của các loại hình doanh nghiệp và quản lý nhà nước về kinh tế. CHUONG 1 QUAN LY QUA TRINH TIEN HANH SAN XUAT KINH DOANH CUA CAC LOẠI HINH DOANH NGHIỆP.1 - NEN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIET NAM - NHUNG ĐẶC DIEM CO BAN VA NHUNG CHU THE KINH DOANH CHU YEU.1 - Dac diém cua su hinh thanh va phat trién nén kinh té thi trường ở nước ta: Từ đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đến nay, Đảng ta đã chủ trương xây dựng mô hình kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, phát triển theo định hướng XHCN.
Kinh tế thị trường định hướng XHCN xét về bản chất là một kiểu tổ chức nền kinh tế vừa dựa trên những nguyên tắc và quy luật của kinh tế thị trường, vừa dựa trên nguyên tắc và mục tiêu của CNXH. Nói cách khác, nó là một kiểu tổ chức kinh tế được kết hợp giữa các qui luật chung của nền kinh tế thi trường và những đòi hỏi kinh tế xã hội mang tính chất XHCN Kinh tế thị trường theo định hướng XHCN thể hiện rõ những đặc điểm sau: Thứ nhất: Nén kinh tế thị trường ở nước ta phải được thực hiện trên cơ sở xác lập một chế độ sở hữu trong đó sở hữu XHCN có vai trò chủ đạo. Nói cách khác phải khẳng định vai trò chủ đạo chiến lược của kinh tế quốc doanh trong hệ thống kinh tế. Vai trò chủ đạo ở đây không đồng nghĩa với sự tham gia rộng khắp hay hiện diện của DNNN trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế.
Điều quan trọng là kinh tế quốc doanh phải nắm các khâu then chốt, mũi nhọn của nền kinh tế, trong đó các DNNN là một trong những công cu kinh tế, một lực lượng vật chất để Nhà nước trực tiếp khống chế, điều tiết vĩ mô nền kinh tế quốc dân theo định hướng XHCN vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng văn minh. Thực tế cho thấy thời gian qua, Nhà nước đã tiến hành sắp xếp lại các DNNN để tạo một hệ thống các DNNN hợp lý và có hiệu qua thông qua việc thành lập 18 Tổng công ty có qui mô Quốc gia (Quyết định 91/TTg ngày 7/3/1994) và 73 Tổng công ty có qui mô nhỏ hơn (Quyết định 90/TTg ngày 7/3/1994) nhằm tập trung vốn, kỹ thuật để tăng sức cạnh tranh và định hướng chiến lược của Nhà nước trong các nghành kinh tế quan trọng. Các Tổng công ty này đã thu hút gần 2000 DNNN chiếm khoảng 30% tổng số DNNN đang hoạt động và và chiếm khoảng 80% sản lượng vốn của khu vực DNNN, có khả năng chi phối toàn bộ nền kinh tế Việt nam. Vai trò chủ đạo còn được thể hiện bằng hoạt động có hiệu quả kinh tế - xã hội của DNNN.
Nhà nước chủ động và trực tiếp tác động vào quá trình kinh tế xã hội nhằm tạo ra sự tăng trưởng nhanh và giải quyết các vấn đề xã hội, nhanh chóng tạo ra sự biến đổi cơ cấu của nền kinh tế theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá. Cu thể, trước năm 1986 khu vực kinh tế quốc doanh chiếm 38% GDP thì đến năm 1995 đã tạo ra 42% GDP; tốc độ tăng bình quân của khu vực này trong những năm 1990 - 1995 là 10,5% trong khi khu vực ngoài quốc doanh chỉ tăng 6,1%. Hơn nữa, kinh tế quốc doanh cần được Nhà nước sử dung để khắc phục những mất cân đối do các thành phần kinh tế khác, đặc biệt là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tạo ra. Nhà nước sử dụng các doanh nghiệp Nhà nước làm đối tác với các công ty đa quốc gia và kinh tế tư nhân, xác lập thành phần kinh tế tư bản Nhà nước và biến thành phần kinh tế này phát triển thành cầu nối giữa kinh tế quốc doanh với các thành phần kinh tế khác.
Bên cạnh đó, kinh tế quốc doanh đóng vai trò hỗ trợ, giúp đỡ các thành phần kinh tế khác cùng phát triển nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế. Cuối cùng, kinh tế quốc doanh phải điều chỉnh, san lấp được các lỗ hổng do cơ chế thị trường tao ra trong các lĩnh vực cần thiết cho sự phát triển kinh tế - xã hội nhưng khả năng sinh lời thấp, không hấp dẫn khu vực kinh tế tư nhân như đầu tư vào cơ sở hạ tầng, công trình phúc lợi xã hội, bảo vệ môi trường thì chỉ có DNNN mới dám đầu tư, kinh doanh. Tóm lại, với kinh tế quốc doanh đủ mạnh và có hiệu quả, Nhà nước có thể tăng cường được khả năng “phản ứng nhanh” trước các biến đổi và biến động của nền kinh tế quốc gia cũng như những tác động không thuận chiều của nền kinh tế thế giới. Thứ hai: Nên kinh tế thị trường Việt nam có định hướng bảo đảm tính công bằng xã hội, sự phát triển bền vững.
Cần khẳng định vai trò xã hội của Nhà nước trong mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta. Đây là đặc điểm hết sức quan trọng khác so với vai trò của Nhà nước dưới chủ nghĩa tư bản. Nếu mô hình kế hoạch hoá tập trung quan liêu hạn chế sự tăng trưởng nhưng phần nào giải quyết được yêu cầu cân bằng, thì việc chuyển sang nền kinh tế thị trường phải gắn liền với những thay đổi lớn, căn bản về mặt xã hội. Nói cách khác nền kinh tế thị trường ở Việt Nam phải có sự kết hợp hài hoà, thống nhất giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội và tién bộ xã hội.
Vì vậy, Nhà nước thông qua hệ thống chính sách và pháp luật bảo đảm nguyên tắc mọi người được tự do kinh doanh, tự do cạnh tranh, bình đẳng trước pháp luật, được bảo hộ quyền sở hữu và thu nhập hợp pháp. Mặt khác, Nhà nước phải khắc phục những mặt trái của kinh tế thị trường như sự phân hoá những người sản xuất kinh doanh; người kinh doanh chạy theo lợi nhuận trước mắt, không tính đến lợi ích toàn cục; việc xem nhẹ các yêu cầu xã hội; việc phá vỡ môi sinh và những hậu quả xã hội xấu. Do đó, hơn lúc nào hết cần phải đề cao vai trò của pháp luật và các chính sách kinh tế, giảm đến mức thấp nhất mặt tiêu cực và hậu quả kinh tế xã hội do cạnh tranh đem lại nhằm bảo đảm phúc lợi công cộng cũng như công bằng xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái. Thứ ba: Nền kinh tế thị trường Việt nam được xây dựng từ một nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung cao độ, trong khi nhiều nước trên thế giới xây dựng nền kinh tế thị trường tuần tự từ kinh tế tự nhiên đến kinh tế hàng hoá giản đơn lên kinh tế thị trường tự do và kinh tế thị trường hỗn hợp.
Nền kinh tế thị trường khác với nền kinh tế tự nhiên, tự cung tự cấp và cũng đối lập với nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung. Cơ chế vận hành của nền kinh tế thị trường tuân theo qui luật của riêng nó, đó là qui luật giá trị, qui luật cung cầu, qui luật cạnh tranh. Vì vậy, việc chuyển sang nền kinh tế thị trường ở nước ta không có tính kế thừa mà đòi hỏi phải xoá bỏ triệt để cơ chế tập trung quan liêu bao cấp. Hệ thống pháp luật cũ là hệ quả tất yếu của cơ chế cũ do đó cũng cần phải có một sự cải cách cơ bản và sâu sắc thay thế bởi một hệ thống pháp luật mới phù hợp.
Như vậy, kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt nam không có nghĩa là dán nhấn XHCN cho mọi quá trình và mọi quan hệ kinh tế, cũng không phải đồng nhất nó với việc củng cố và phát triển chế độ công hữu. Cơ chế thị trường chỉ là một bộ phận quan trọng trong toàn bộ chiến lược phát triển kinh tế xã hội theo con đường XHCN ở nước ta. Nó cho phép lợi dụng những phương tiện và công cụ của thị trường, kể cả những kinh nghiệm kinh doanh và phương thức quản lý tiến bộ của chủ nghĩa tư bản để phục vụ cho mục tiêu XHCN, bởi lẽ kinh nghiệm và phương thức ấy phan ánh qui luật phát triển chung của nền kinh tế xã hội hiện đại va qui luật phát triển kinh tế hàng hoá phổ biến trên thế giới.2 - Những chủ thể kinh doanh chủ yếu Để tìm hiểu những chủ thể kinh doanh, trước hết cần đề cập đến khái niệm “kinh doanh”. Điều 3 Luật công ty ngày 21/12/1990 quy định: “Kinh doanh là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời”.
Như vậy bản chất của kinh doanh là hoạt động đầu tư nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận. Tiến hành hoạt động kinh doanh là các chủ thể kinh doanh. Đó có thể là cá nhân tổ chức hoặc đơn vị, có thể có tư cách pháp nhân hay không có tư cách pháp nhân, đáp ứng đầy đủ các điều kiện mà pháp luật quy định. Như vậy không phải bất kỳ một cá nhân, tổ chức, đơn vị nào khi tiến hành kinh doanh thì đều có thể trở thành chủ thể kinh doanh, mà phải thoả mãn các điều kiện sau: Thứ nhái: Phải là những don vị thành lập hợp pháp tức là chủ thể đó có thể được thành lập theo thủ tục cho phép đăng ký, công nhận hoặc do cơ quan nhà nước có thầm quyền ra quyết định thành lập.
Trên thực tế, các chủ thể kinh doanh được tổ chức dưới nhiều hình thức, quy mô khác nhau, có thể có phạm vi kinh doanh rộng và quy mô kinh doanh lớn như các DNNN nhưng cũng có những don vi có phạm vi kinh doanh hẹp, quy mô kinh doanh nhỏ như hộ kinh tế cá thé. Thứ hai:_ Phải có tài sản riêng. Điều đó có nghĩa là chủ thé đó phải có quyền chi phối, quan lý, sử dụng, định đoạt đối với một khối lượng tai sản nhất định. Yếu tố tài sản thể hiện trên hai phương diện: Về mặt kinh tế, tài sản là cơ sở vật chất để các chủ thé tiến hành hoạt động kinh doanh.