chương 1 Chương này, tác giả xác định tính cấp thiết lựa chọn đề tài “Kỹ năng và hành vi bán hàng ảnh hưởng đến chất lượng mối quan hệ với khách hàng và hiệu suất bán hàng của nhân viên: nghiên cứu tại công ty TNHH kỹ thuật CK Tools”. Tác giả cũng đã trình bày mục tiêu nghiên cứu tổng quát và cụ thể, đề ra các câu hỏi nghiên cứu tương ứng với mục tiêu đề ra. Bên cạnh đó, tác giả cũng đã xác định rõ đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu cùng ý nghĩa của nghiên cứu này. 13 CHƯƠNG 2: CỞ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.
Các lý thuyết liên quan đến nghiên cứu 2. Lý thuyết trao đổi xã hội - SET Lý thuyết trao đổi xã hội nghiên cứu các quá trình xã hội chi phối các mối quan hệ tương đối giữa các cá nhân hoặc nhóm. SET nói lên mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau phát triển theo thời gian thông qua tương tác, trao đổi của các đối tác (Cropanzano và Mitchell, 2005). Mặc dù lý thuyết trao đổi xã hội ban đầu đề cập đến các mối quan hệ giữa các cá nhân, những phát hiện của nó cũng có thể được sử dụng để phân tích các mối quan hệ trao đổi giữa người mua và người bán (Harris và cộng sự, 2003).
Lý thuyết trao đổi xã hội có thể giúp thúc đẩy các nhà cung cấp phục vụ những khách hàng được lựa chọn tốt hơn những khách hàng khác. Nó cung cấp thông tin về hành vi đánh giá khách hàng của nhà cung cấp và các yếu tố kích thích các nhà cung cấp hợp tác sâu rộng và cuối cùng là việc lực chọn khách hàng tiềm năng. Trong lý thuyết trao đổi xã hội, người ta cho rằng nhận thức về sự hấp dẫn ban đầu hoàn toàn dựa trên niềm tin và kỳ vọng của cả hai bên. Wilkinson và cộng sự (2005) tuyên bố rằng các cá nhân trong một công ty đánh giá các đối tác tiềm nằng thông qua chất lượng mối quan hệ.
Khi khách hàng tiềm năng có sự phụ thuộc lẫn nhau, quan hệ, tin tưởng và chất lượng mối quan hệ sẽ bắt đầu phát triển tốt hơn (Liu và cộng sự, 2009). Do vậy, tác giả sử dụng lý thuyết này để giải thích việc nâng cao chất lượng mối quan hệ với khách hàng của nhân viên càng cao thì hiệu suất bán hàng sẽ cao và ngược lại. Thực tế cho thấy, khi nhân viên CK Tools có mối quan hệ tốt với khách hàng, thì hiệu suất bán hàng của nhân viên đó cao hơn những nhân viên khác tại công ty. Bên cạnh đó, nhân viên cũng báo cáo là hỗ trợ khách hàng đó nhiều lần hơn.
Do vậy, tác giả áp dụng lý thuyết này để hy vọng lý giải về mối quan hệ giữa nhân viên bán hàng của công ty sẽ làm tăng hiệu suất bán hàng của cá nhân nhân viên. Lý thuyết ảnh hưởng xã hội Lý thuyết ảnh hưởng xã hội tập trung vào thái độ và hành vi của các cá nhân ảnh hưởng đến người khác và bản chất của các cơ chế ảnh hưởng xã hội, tiền đề và 14 hậu quả của chúng (Treadway và cộng sự, 2013). Một người gây hưởng xã hội nhằm mục tiêu là đạt được kết quả mong muốn. Nghĩa là, nhân viên bán hàng sử dụng sức ảnh hưởng xã hội để thúc giục người mua thỏa mãn nhu cầu tổ chức của họ thông qua các quyết định cuối cùng là mua hàng và có lợi cho bên bán hàng.
Lý thuyết ảnh hưởng xã hội cũng gợi ý rằng các cá nhân tham gia vào việc suy nghĩ trước cho phép họ ảnh hưởng đến chính mình (Bandura 1991). Cơ chế tự điều chỉnh này cũng giúp tạo ra trải nghiệm mong đợi của một người từ các tương tác và kết quả của khách hàng, đồng thời củng cố sự tập trung của họ vào các khía cạnh tích cực của nhiệm vụ bán hàng. Kalra và cộng sự (2017) cho rằng vị trí, vai trò của nhân viên bán hàng rất quan trọng, do đó, tác giả sử dụng thuyết này để ứng dụng giải thích hành vi bán hàng của nhân viên sẽ gia tăng chất lượng mối quan hệ với khách hàng và hiệu suất bán hàng của họ. Và nếu như họ gia tăng chất lượng mối quan hệ với khách hàng sẽ giúp nhân viên có khả năng bán được nhiều hàng hơn, dễ tiếp cận hơn và sẽ hỗ trợ khách hàng tốt hơn.
Với hầu hết đơn vị kinh doanh, hiệu suất bán hàng rất quan trọng với ý nghĩa sống còn của công ty, CK Tools cũng không ngoại lệ, hiệu suất bán hàng của nhân viên sẽ liên quan đến hành vi bán hàng của họ, và nếu những nhân viên của CK Tools đều có ảnh hưởng tốt đến khách hàng thì họ sẽ giúp nân cao hiệu suất bán hàng của cả nhân từ đó nâng cao hiệu suất bán hàng của công ty. Do đó, tác giả sử dụng thuyết này để giả định ảnh hưởng của nhân viên tốt sẽ giúp nâng cao hiệu suất của cá nhân với khách hàng của công ty CK Tools trong phân phối cũng như tìm kiếm các khách hàng tiềm năng cho công ty. Lý thuyết tiếp thị quan hệ Tiếp thị dựa vào mối quan hệ và bán hàng là nền tảng của tiếp thị công nghiệp hiện đại. Tiếp thị mối quan hệ đã được định nghĩa là “tất cả các hoạt động tiếp thị hướng tới việc thiết lập, phát triển và duy trì trao đổi quan hệ đã thành công” (Morgan và Hunt 1994, trang 22).
Thời gian gần đây, các công ty lớn như IBM, Philiips, 15 General Electric đã chuyển từ quan điểm lấy sản phẩm làm trung tâm sang quan điểm lấy dịch vụ làm trung tâm (Vargo và Lusch, 2004) thông qua áp dụng một phương pháp bán hàng toàn diện hơn tập trung vào lòng trung thành, sự hài lòng và bán hàng trong mối quan hệ của khách hàng. Một khi thực hiện chính xác các kỹ thuật tiếp thị quan hệ sẽ tạo ra các mối quan hệ tốt hơn với khách hàng giúp tăng hiệu suất của người bán như lợi nhuận, lòng trung thành và mở rộng thị phần. Dwyer, Shurr và Oh vào năm 1987 là những người đầu tiên nêu lên sự khác biệt giữa “giao dịch trao đổi” là sự trao đổi giá trị giữa hai bên và phát triển ở mức cao hơn là “giao dịch trao đổi quan hệ” có thời gian liên kết dài hơn, nghĩa vụ liên tục, nỗ lực chung và đòi hỏi sự hợp tác lâu dài giữa người mua và người bán. Kỹ thuật bán hàng quan hệ được áp dụng trong môi trường kinh doanh với người tiêu dùng, kinh doanh với doanh nghiệp và dịch vụ chuyên nghiệp.
Chính vì vậy, đề tài sẽ áp dụng các nguyên tắc bán hàng quan hệ trong môi trường kinh doanh để giải thích chất lượng mối quan hệ ảnh hưởng đến hiệu suất bán hàng của công ty. Như đã trình bày, các lý thuyết đều cho thấy một nhân viên có mối quan hệ tốt, chất lượng cao với người mua hàng hay khách hàng sẽ có cơ hội gia tăng hiệu suất bán hàng của họ từ đó làm gia tăng doanh thu của công ty. Đồng thời từ lý thuyết trao đổi xã hội, ảnh hưởng xã hội đều cho thấy nếu nhân viên có mức độ ảnh hưởng cao đến khách hàng, sẽ được khách hàng quý mến, tin tưởng và có khả năng cao sẽ mua hàng do người bán cung cấp. Giả thuyết và mô hình nghiên cứu 2.
Định nghĩa khách hàng Khách hàng là cá nhân hoặc tập thể hay tổ chức thực hiện các giao dịch mua bán hàng hóa hay dịch vụ với các cơ sở sản xuất, dịch vụ, các cửa hàng. Khách hàng bao gồm nhiều đối tuợng, mỗi ngành nghề kinh doanh sẽ có một đối tuợng khách hàng khác nhau. Tuy nhiên khách hàng thuờng đuợc phân loại thành hai nhóm chính như khách hàng tiêu dùng chính là những cá nhân mua sản phẩm, dịch vụ với mục dích thỏa mãn nhu cầu cho bản thân hoặc gia đình và mua hàng không mang tính chất thuơng mại. Khác với nhóm khách hàng cá nhân, khách hàng công nghiệp là những 16 tổ chức mua hàng nhằm phục vụ cho hoạt động sản xuất của doanh nghiệp cũng nhu để phục vụ cho các phòng ban trong tổ chức.
Mỗi nhóm khách hàng có nhu cầu và cách thức mua hàng khác nhau. Vì vậy, doanh nghiệp cần tìm hiểu nhu cầu, cách thức mua hàng cũng nhu các yếu tố ảnh huởng tới từng nhóm khách hàng để nắm bắt và thỏa mãn nhu cầu riêng của từng dối tuợng khách hàng 2. Mối liên hệ giữa kỹ năng giao tiếp, chất lượng mối quan hệ và hiệu suất bán hàng Khái niệm bán hàng được định nghĩa với nhiều phương diện khác nhau: nói về phương diện kinh tế hàng hóa thì bán hàng là một hoạt động nhằm thay đổi hình thái từ hàng thành tiền nhằm đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng về mặt giá trị sử dụng. Về phương diện hành vi thương mại: người bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho người mua và nhận được tiền hoặc nhận được quyền thu tiền bán hàng, người mua có nghĩa vụ trả tiền cho người bán và vân chuyển theo thỏa thuận của hai bên.
Theo Comer và cộng sự (1999) thì bán hàng là một quá trình mang tính cá nhân trong đó người bán tìm hiểu, nắm bắt, và gợi ý các mặt hàng để đáp ứng những nhu cầu hay mong muốn của người mua hàng nhằm thực hiện quyền lợi thích đáng, lâu dài giữa hai bên. Hoạt động bán hàng cực kỳ quan trọng giúp gia tăng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, ngoài ra còn giúp tạo niềm tin khi bán hàng đúng chất lượng, có giá trị sử dụng lâu dài và phù hợp mục đích của khách hàng. Bán hàng là một nghệ thuật, nhân viên bán hàng là một nghệ sĩ, biết tư vấn, khơi gợi đáp ứng nhu cầu của người mua, hoặc đáp ứng mục tiêu của khách hàng thông qua việc sử dụng hàng hóa hay giải pháp kỹ thuật mà công ty bán hàng có thể đáp ứng. Kỹ năng bán hàng là trình độ học tập của nhân viên khi thực hiện các nhiệm vụ cần thiết cho công việc bán hàng (Ford và cộng sự, 1987).
Kỹ năng bán hàng thường liên quan đến các nguyên tắc cơ bản quan trọng mà nhân viên bán hàng cần phải có để bắt đầu bán sản phẩm của công ty của mình. Kỹ năng có thể được uốn nắn, cải 17 thiện thông qua đào tạo, làm mẫu và rèn luyện trong thực tế. Kỹ năng bán hàng, giống như các kỹ năng khác, có thể được chia thành các kỹ năng thủ tục (biết cách làm điều gì đó) và kỹ năng khai báo (biết về điều gì đó) (LaForge và Dubinsky, 1996).