Chương 1 lần lượt trình bày về lý do chọn đề tài, tổng quan tình hình nghiên cứu , đối tượng, phạm vi, mục đích, phương pháp nghiên cứu cũng như nội dung và hạn chế của đề tài. 15 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ ĐỘNG 2.1 Lý thuyết về sự tự quyết (Self-Determination Theory - SDT) Có nhiều hướng tiếp cận về động lực thông qua các nhóm lý thuyết khác nhau, trong nghiên cứu này, tác giả ủng hộ lý thuyết tự quyết được đề xuất bởi Deci & Ryan (1985). Tính đến thời điểm hiện tại, lý thuyết này đã được Ryan & Deci (2000a,b, 2008, 2017, 2020), Gagné & Deci (2005), Gagné et al. (2015) tiếp tục nghiên cứu.
Lý thuyết về sự tự quyết đã trở thành một trong những lý thuyết được nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi nhất trong lĩnh vực tâm lý học (Ryan & Deci, 2017) nhờ vào cách tiếp cận khoa học cơ bản của lý thuyết đối với động lực của con người và cả giá trị thực tiễn lý thuyết mang lại được xác nhận rộng rãi trên nhiều lĩnh vực. Thuyết tự quyết cho rằng, có một miền liên tục của mức độ tự quyết từ cao đến thấp liên quan đến miền động lực tương ứng là động lực bên trong, động lực bên ngoài và thiếu động lực (sự thụ động) (Howard, Bureau, & Gagné, 2017; Sheldon, Osin, Gordeeva, Suchkov, & Sychev, 2017). Nếu như miền động lực bên trong là nơi các cá nhân hoàn toàn tự ra các quyết định, đối ngược với thái cực của miền thụ động - nơi con người thiếu động lực, thì miền động lực ở giữa – động lực bên ngoài được phân theo mức độ nội tâm hóa từ thấp đến cao, bao gồm: động lực được điều chỉnh từ những áp lực bên ngoài (external regulation), động lực được điều chỉnh do tự nhận thức hay áp lực nội sinh (introjected regulation), động lực được điều chỉnh bởi áp lực do tính quan trọng của vấn đề, tức là điều chỉnh xác định (identified regulation), và động lực điều chỉnh tích hợp, hòa hợp với giá trị cá nhân (integrated regulation) (Deci & Ryan, 1985; Vallerand, & Bissonnette, 1992; Ryan & Deci, 2000b, 2020; Gagne et al. Đối với miền thụ động, Deci & Ryan (1985) cho rằng cần xem xét để hiểu đầy đủ hành vi của con người.
Bản chất của Lý thuyết tự quyết Lý thuyết tự quyết tiếp cận quan điểm về sự đa chiều của động lực. Các loại động lực khác nhau sẽ là cơ sở cho các quyết định khác nhau và có mức độ tự quyết khác nhau (Gagné et al. Lý thuyết này cũng cho rằng con người có ba nhu cầu tâm lý bẩm 16 sinh, bao gồm nhu cầu tự chủ (de Charms, 1968; Deci, 1975), nhu cầu có năng lực (Harter, 1978; White, 1963) và có liên quan (Baumeister & Leary, 1995; Reis, 1994) trong cộng đồng (Ryan & Deci, 2000b, 2019). Các nhu cầu này cần được hỗ trợ cho các sự phát triển lành mạnh cho các cá nhân đang mở rộng sự kết nối (Ryan & Deci, 2019).
Rất nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc thỏa mãn ba nhu cầu này là rất quan trọng, từ chăm sóc sức khỏe cá nhân (Williams et al., 2000) đến sức khỏe tâm thần (Sheldon et al., 2008), các mối quan hệ giữa các cá nhân (LaGuardia & Patrick, 2008), dịch vụ công (Park & Rainey, 2008), và thậm chí giúp đỡ người khác (Grant, 2008). Trong đó, nhu cầu tự chủ liên quan đến ý thức chủ động và quyền sở hữu trong hành động của một người. Nó được hỗ trợ bởi những trải nghiệm thú vị và có giá trị và bị suy yếu bởi những trải nghiệm bị kiểm soát từ bên ngoài, dù bằng phần thưởng hay hình phạt. Nhu cầu năng lực liên quan đến cảm giác làm chủ, cảm giác rằng một người có thể thành công và phát triển.
Nhu cầu này được thỏa mãn tốt nhất trong môi trường có cấu trúc tốt, có đủ khả năng thách thức tối ưu, phản hồi tích cực và cơ hội phát triển. Cuối cùng, sự liên quan liên quan đến cảm giác thân thuộc và kết nối. Nó được tạo điều kiện thuận lợi bằng cách truyền tải sự tôn trọng và quan tâm. Việc cản trở bất kỳ nhu cầu nào trong số ba nhu cầu cơ bản này được coi là có hại cho động lực và sự hạnh phúc (Ryan & Deci, 2020).
Các hành vi được thúc đẩy từ bên trong xuất phát từ sự thú vị của hoạt động, mong muốn tìm kiếm sự thách thức để tìm tòi, học hỏi, phát triển của các cá nhân hay đáp ứng nhu cầu tâm lý bẩm sinh về năng lực (Phạm et al. Trong khi đó, các hành vi xuất phát từ bên ngoài có thể được thực hiện bởi các kết quả khác nhau, ví dụ đến từ việc các cá nhân mong muốn nhận phần thưởng hay tránh sự chỉ trích, hoặc tránh cảm giác tội lỗi, nghĩa là, động lực bên ngoài có nhiều hình thức khác nhau tùy thuộc vào nguồn điều chỉnh cảm nhận (Phạm et al. Hay nói cách khác, các hành vi này có thể khác nhau ở mức độ tự quyết mà chúng thể hiện (Phạm et al. Ba nhu cầu nói trên được hỗ trợ bởi các điều kiện bối cảnh xã hội, đây là cơ sở duy trì động lực bên trong và trở nên tự quyết hơn đối với các động lực bên ngoài (Phạm et al.
Tất cả các hình thức điều chỉnh bên ngoài có thể tạo ra động lực cao (Phạm et al., 17 2022), tuy nhiên theo lý thuyết tự quyết, điều chỉnh bên ngoài cũng có thể đem đến hậu quả tiêu cực. Hơn nữa, hoàn cảnh xã hội cũng làm tăng lên hoặc giảm đi động lực của nhân viên, nghĩa là nếu hoàn cảnh xã hội tạo ra sự hỗ trợ không đầy đủ, người nhân viên có thể theo đuổi động lực bên ngoài (ví dụ: tiền tệ) hơn là động lực bên trong (ví dụ: mong muốn làm việc vì công việc thú vị) (Deci & Ryan, 2000a). Tóm lại, lý thuyết tự quyết ngoài quan tâm đến bản chất cụ thể của xu hướng tích cực, còn quan tâm đến môi trường xã hội đối nghịch với các xu hướng này (Phạm et al. Thuyết tự quyết và điều chỉnh động lực bên trong Nghiên cứu của lý thuyết tự quyết bắt đầu từ động lực bên trong.
Có thể thấy, động lực bên trong khiến cá nhân làm việc vì sự thỏa mãn và niềm vui mà hành động mang lại, hoàn toàn thích thú và dễ chịu từ bên trong của chính hành động (Phạm et al., 2022), trái ngược với sự kiểm soát, bắt buộc từ bên ngoài (Ryan & Deci, 2017). Dạng động lực bên trong này mô tả sự tự xác định hoàn toàn của động lực, đặc trưng cho mức cao nhất của quỹ tích nhận thức về quan hệ nhân quả (Phạm et al. Sự thúc đẩy, duy trì động lực bên trong dẫn đến hoạt động tối ưu, là biểu hiện của sự phát triển, phát triển trong và giữa các cá nhân về thái độ, kết quả hành vi, hành vi hợp tác và sự hạnh phúc của nhân viên (Van den Broeck et al. Động lực bên trong thúc đẩy con người tham gia các hoạt động vì niềm vui từ hoạt động mang lại mà không cần phần thưởng (Deci & Ryan, 1985).
Các hành vi này đại diện cho nguyên mẫu của sự tự quyết (Phạm et al. Thuyết tự quyết và điều chỉnh động lực bên ngoài Tuy động lực bên trong đóng vai trò quan trọng, nhưng đây không phải là loại duy nhất (Deci & Ryan, 1985). Bởi bên cạnh đó, còn có các điều chỉnh là các dạng động lực bên ngoài khác nhau về mức độ các dạng thức này được nội bộ hóa – sự đồng hóa tích cực các điều chỉnh hành vi xa lạ, bên ngoài với bản thân trở thành hành vi gần gũi hơn, nhưng khác với động lực bên trong (Howard et al., 2020; Ryan, 1995:405) - do đó dẫn đến sự khác nhau về mức độ tự quyết định. Một số trong các dạng động lực bên ngoài là tự quyết và có 18 thể được thực hiện thông qua tự điều chỉnh (Deci & Ryan, 1985, 1987; Ryan & Connell, 1989; Ryan et al.
Ryan & Deci (2000b) kết luận rằng phần lớn những việc mọi người làm là do các áp lực xã hội gây sức ép ngày càng lớn để thực hiện các hoạt động không thú vị và chịu trách nhiệm mới chứ không hẳn đến từ sự thúc đẩy bên trong. Khác với các lý thuyết phủ nhận sự tự chủ của các động lực bên ngoài, lý thuyết tự quyết đề xuất rằng trong mức tự chủ tương đối của mình, động lực bên ngoài có thể thay đổi rất nhiều (Ryan & Connell, 1989; Deci & Ryan, 1985; Vallerand, 1997), hay nói cách khác, những quyết định hành vi đều có thể có chủ ý nhưng các loại động lực bên ngoài này khác nhau về quyền tự chủ tương đối của cá nhân (Ryan & Deci, 2000a). Dựa trên mức độ nội tâm hóa từ thấp đến cao, động lực bên ngoài có các dạng bao gồm: động lực được điều chỉnh từ những áp lực bên ngoài, động lực được điều chỉnh do tự nhận thức hay áp lực nội sinh, động lực được điều chỉnh bởi áp lực do tính quan trọng của vấn đề, tức là điều chỉnh xác định, và động lực điều chỉnh tích hợp, hòa hợp với giá trị cá nhân (Deci & Ryan, 1985; Vallerand, & Bissonnette, 1992; Ryan & Deci, 2000b, 2020; Gagne et al. Nội tâm hóa các quá trình điều chỉnh hội nhập Nội tâm hóa đề cập việc cá nhân tiếp nhận một giá trị nào đó hoặc điều chỉnh, sau đó chuyển đổi quy định đó thành của riêng mình (hội nhập), sau đó sẽ xuất phát từ ý thức về bản thân (Phạm et al.
Đây là một quá trình của sự liên tục (Phạm et al. Quá trình này diễn ra từ sự không sẵn sàng, sau đó đến tuân thủ thụ động và cuối cùng là cam kết cá nhân tích cực. Nội tâm hóa là quá trình trong đó một nhu cầu bên ngoài (ví dụ: cố gắng học bài này) được đồng hóa thành một sự điều chỉnh mang tính tự quyết hơn, được cá nhân chứng thực và có giá trị cá nhân hơn (Deci & Ryan, 1985, 1991; Ryan & Deci, 2000a). Động lực điều chỉnh tích hợp, hòa hợp với giá trị cá nhân là kiểu nội tâm hóa đầy đủ nhất (xem bổ sung tại phụ lục 2) 19 2.1 Động lực (Motivation) Nếu Williams & Burden (1997) xem động lực dưới hai khía cạnh là khởi đầu liên quan đến lý do để làm điều gì đó, quyết định làm điều gì đó và duy trì động lực đề cập đến nỗ lực duy trì, kiên trì làm điều gì đó; thì, Dörnyei & Ushioda (2001, 2011) phân loại động lực theo hai khía cạnh: xu hướng và tầm quan trọng của hành vi con người.