Chương 1 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH HƯNG YÊN VỀ PHÁT TRIỂN GIAO THÔNG VẬN TẢI (2010 - 2015) 1. Những yếu tố tác động và chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên về phát triển giao thông vận tải 1. Những yếu tố tác động * Tình hình thế giới và trong nước Tình hình thế giới: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam (01/2011) đã nhận định, đánh giá trong thập niên tới, hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, nhưng, xung đột sắc tộc và tôn giáo, tranh giành tài nguyên và lãnh thổ, nạn khủng bố và tội phạm xuyên quốc gia có thể gia tăng cùng với những vấn đề toàn cầu khác như đói nghèo, dịch bệnh, biến đổi khí hậu, các thảm họa thiên nhiên. buộc các quốc gia phải có chính sách đối phó và phối hợp hành động.
Các nước trong Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) bước vào thời kỳ hợp tác mới theo Hiến chương ASEAN và xây dựng Cộng đồng dựa trên ba trụ cột: chính trị - an ninh, kinh tế, văn hóa - xã hội; hợp tác với các đối tác tiếp tục phát triển và đi vào chiều sâu. ASEAN đang ngày càng khẳng định vai trò trung tâm trong một cấu trúc khu vực đang định hình nhưng cũng phải đối phó với những thách thức mới. Khu vực châu Á - Thái Bình Dương tiếp tục phát triển năng động và đang hình thành nhiều hình thức liên kết, hợp tác đa dạng hơn. Tuy vậy, vẫn tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định, nhất là tranh giành ảnh hưởng, tranh chấp chủ quyền biển, đảo, tài nguyên.
Toàn cầu hóa kinh tế tiếp tục phát triển về quy mô, mức độ và hình thức biểu hiện với những tác động tích cực và tiêu cực, cơ hội và thách thức đan xen rất phức tạp. Để thúc đẩy phát triển KT - XH việc quan trọng cần thúc đẩy phát triển hệ thống GTVT đây là cầu nối không gian giữa các khu vực, kết nối hoạt động KT - XH giữa các vùng, các quốc gia với thế giới và bảo đảm quốc phòng an ninh cho đất nước. Do đó phát triển GTVT là vấn đề quan trọng không chỉ ở phạm vị các quốc gia mà cả thế giới. 14 Tình hình trong nước: Trong 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển KT - XH 2001 - 2010, chúng ta đã tranh thủ thời cơ, thuận lợi, vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, nhất là những tác động tiêu cực của hai cuộc khủng hoảng tài chính - kinh tế khu vực và toàn cầu, đạt được những thành tựu to lớn và rất quan trọng, đất nước đã ra khỏi tình trạng kém phát triển, bước vào nhóm nước đang phát triển có thu nhập trung bình.
Nhiều mục tiêu chủ yếu của Chiến lược 2001 - 2010 đã được thực hiện, đạt bước phát triển mới cả về lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất. Kinh tế tăng trưởng nhanh, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt. Tuy nhiên kinh tế phát triển còn chưa bền vững, chất lượng tăng trưởng hiệu quả thấp; công tác quy hoạch, kế hoạch và việc huy động, sử dụng các nguồn lực còn hạn chế, kém hiệu quả đầu tư dàn trải. Do đó việc phát triển GTVT còn gặp nhiều khó khăn, kéo theo đó chưa tạo động lực phát triển KT - XH.
* Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Hưng Yên Điều kiện tự nhiên: Vị trí địa lý: Hưng Yên là một tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, đồng thời cũng thuộc trung tâm vùng đồng bằng sông Hồng và trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, cách thủ đô Hà Nội 64 km về phía Đông Nam, có địa giới hành chính tiếp giáp với 5 tỉnh, thành phố: Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Dương, Hà Nam và Thái Bình. Tổng diện tích đất tự nhiên 93. Một trong những ưu thế lớn của Tỉnh so với các tỉnh khác trong cả nước là tiếp giáp với Thủ đô Hà Nội và khu vực trọng điểm kinh tế Bắc bộ, với địa giới như vậy thuận tiện cho việc quy hoạch xây dựng và phát triển hệ thống GTVT. Địa hình, thổ nhưỡng: Hưng Yên tương đối bằng phẳng, không có núi đồi, thấp dần từ Bắc xuống Nam, từ Tây sang Đông, thuận lợi cho phát triển hệ thống GTVT.
Đất đai trong Tỉnh được hình thành do phù sa sông Hồng bồi đắp, thành phần cơ giới của đất từ đất thịt nhẹ đến đất thịt pha do vậy ít có hiện tượng sụt, lún bảo đảm thuận lợi cho quá trình xây dựng hệ thống giao thông. 15 Khí hậu, thời tiết: Hưng Yên chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm, mưa nhiều, bốn mùa rõ rệt; nhiệt độ trung bình năm 230C; lượng mưa trung bình hàng năm 1. Nhìn chung, chế độ khí hậu, thời tiết rất thuận lợi cho phát triển công trình giao thông cũng như hoạt động vận tải. Tuy nhiên, vào mùa mưa cũng gây úng ngập cục bộ một số vùng trũng, xói mòn đường và cầu, dẫn đến việc thay đổi dòng chảy của sông, ảnh hưởng đến tình trạng của đường bộ và đường sắt, hoạt động khai thác kho bãi, bến xe, đường sắt, gây khó khăn cho hoạt động vận tải.
Tài nguyên đất: Hưng Yên nằm giữa vùng đồng bằng Bắc Bộ. Điểm trung tâm đồng bằng Bắc Bộ là thôn Dung (Thiên Xuân) thuộc xã Hưng Đạo, huyện Tiên Lữ. Hưng Yên là vùng quê thuần chất nhất của vùng đồng bằng sông Hồng vì không có biển, không có núi, đồi, không có rừng. Hiện nay, Hưng Yên có diện tích đất tự nhiên 93.022,44 ha, trong đó: đất nông nghiệp: 60.116,17 ha; đất trồng cây hằng năm: 40.962,78 ha; đất trồng cây lâu năm: 12.599,57 ha; đất nuôi trồng thủy sản: 5.051,75 ha; đất nông nghiệp khác: 1.502,07 ha; đất phi nông nghiệp: 32.662,15 ha; đất chưa sử dụng: 244,12 ha.
Đất đai bảo đảm thuận lợi cho nhu cầu phát triển xây dựng hệ thống GTVT. Tài nguyên khoáng sản: nguồn khoáng sản chính là cát đen trên các sông Hồng, sông Luộc… Đây là nguồn khoáng sản tại chỗ quan trọng phục vụ cho xây dựng phát triển công trình GTVT. Điều kiện kinh tế - xã hội: Đơn vị hành chính, dân số: tỉnh Hưng Yên có 1 thành phố và 9 huyện với tổng 7 phường, 9 thị trấn, 145 xã. Dân số là 1.368 người, mật độ dân số 1.252 người/km2, dân số khu vực nông thôn còn ở mức cao (theo tổng điều tra dân số năm 2009).
Tỷ suất tăng tự nhiên hàng năm bình quân là 10,310/0. Mật độ dân số đông làm cho hệ thống giao thông quá tải dẫn đến tình trạng ùn tắc cục bộ, TNGT. 16 Hưng Yên là tỉnh có dân số trẻ, nguồn nhân lực dồi dào, chất lượng lao động tương đối tốt. Số người trong độ tuổi lao động 748.
Đây là nguồn nhân lực dồi dào bảo đảm cho phát triển KT - XH nói chung và GTVT nói riêng. Tăng trưởng kinh tế: Hưng Yên đã đạt được những thành quả về KT - XH tích cực: tăng trưởng GDP bình quân đạt cao hơn mức trung bình cả nước. GDP bình quân đầu người đạt 20 triệu đồng tương đương (1. Huy động vốn đầu tư toàn xã hội tăng cao.
Tổng số vốn huy động cho đầu tư phát triển toàn xã hội đạt 25.332 tỷ đồng, tăng bình quân là 10,86%/năm. Hạ tầng KT - XH, giao thông, thuỷ lợi, trường học, bệnh viện và đô thị được đầu tư nhiều, phát triển nhanh, nhất là các tuyến đường trọng điểm và đường GTNT. Sản xuất công nghiệp, xây dựng: duy trì tốc độ tăng trưởng nhanh. Giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân 8,6 %/năm.
Cơ cấu công nghiệp chuyển dịch tích cực; tiểu thủ công nghiệp được duy trì, có 59 làng nghề đang hoạt động hiệu quả. Thu hút thêm 442 dự án đầu tư với tổng vốn đăng ký 30.370 tỷ đồng và 1,8 tỷ USD; nâng tổng số lên 1.225 dự án với tổng vốn đầu tư đăng ký tương đương 7,1 tỷ USD. Tốc độ tăng trưởng như đòn bẩy kích cầu phát triển GTVT trong toàn Tỉnh. Tỉnh có 4 khu công nghiệp hoạt động (Phố Nối A, Thăng Long II, Dệt may Phố Nối, Minh Đức) với tổng diện tích đầu tư cơ sở hạ tầng khoảng 1.261,3 ha đất tự nhiên trong đó có 907,3 ha đất công nghiệp có thể thuê.
Hiện nay, tại các KCN trên địa bàn tỉnh có 211 dự án đầu tư, trong đó có 173 dự án FDI (tổng vốn đầu tư đăng ký 2,92 tỷ USD) và 138 dự án có vốn đầu tư trong nước (tổng vốn đầu tư đăng ký 15. Trên địa bàn toàn Tỉnh hiện có 12 cụm công nghiệp đang hoạt động với diện tích: 410,6ha. Vùng công nghiệp tập trung chủ yếu tại khu vực phía bắc của tỉnh và thuộc 1 trong 2 hành lang 17 công nghiệp trọng điểm của vùng Hà Nội (hành lang Hà Nội - Hải Dương - Hải Phòng và Hà Nội - Bắc Ninh - Bắc Giang). Việc chú trọng đầu tư các khu công nghiệp công nghệ cao dọc tuyến cao tốc mới Hà Nội - Hải Phòng (hành lang kinh tế lớn nhất phía bắc Việt Nam) sẽ trở thành động lực lớn nhất của tỉnh.
Các vị trí này có sức hút mạnh với nguồn FDI công nghệ cao như (sản xuất lắp ráp linh kiện điện tử, công nghệ cao .) khu vực dọc tuyến QL5 và vùng phía Bắc tỉnh sẽ hình thành nhu cầu các ngành công nghiệp phụ trợ cần thiết cho khu vực động lực chính cao tốc Hà Nội - Hải Phòng. Thương mại, Dịch vụ, Du lịch: phát triển cả về quy mô, ngành nghề và thị trường với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế. Tổng mức bán lẻ hàng hoá (giá hiện hành) đạt 17. Thị trường xuất khẩu dần được mở rộng, nhiều doanh nghiệp tận dụng được cơ hội, duy trì các thị trường hiện có và phát triển thêm thị trường mới.
Kim ngạch xuất khẩu tăng cao đạt 2. Kim ngạch nhập khẩu là 3. Với lịch sử phát triển lâu dài, hệ thống di tích phong phú và đa dạng nên ngành du lịch phát triển chủ yếu là du lịch tâm linh. Nổi bật nhất là loại hình di tích lịch sử văn hóa, đặc biệt là quần thể di tích Phố Hiến cổ (gồm Đền Mẫu, Chùa Chuông, Đình Chùa Hiến, Đông Đô Quảng hội, Văn miếu Xích Đằng), cùng nhiều ngôi đền nổi tiếng trong tỉnh như Đa Hòa - Dạ Trạch (Khoái Châu), Phù Ủng (Ân Thi), Hải Thượng Lãn Ông (Yên Mỹ), Tống Trân (Phù Cừ).210 di tích, trong đó 306 di tích lịch sử được xếp hạng (159 cấp quốc gia, 147 di tích cấp tỉnh), 400 lễ hội truyền thống.