MỞ ĐẦU Bách bộ (Stemona tuberosa Lour.) là loài cây thuốc mọc hoang ở nhiều vùng núi nước ta. Các thầy thuốc đã lưu lại những bài thuốc hay, đơn giản mà hiệu quả từ dược liệu Bách bộ với công dụng chính yếu hỗ trợ điều trị các chứng bệnh ho. Bên cạnh đó, các nhà khoa học tìm ra rằng trong Bách bộ chứa hàm lượng hợp chất alkaloid nhiều nhất ngoài ra còn có chất khác là stilben, phenanthren, glucid, protid, lipid, acid hữu cơ. Có bốn loại alkaloid gồm neotuberostemonin, tuberostemonin và stemoninin ức chế phản xạ ho ngoại vi, trong khi croomin ức chế ở trung tâm ho1.
Vì vậy, dược liệu Bách bộ có khả năng ứng dụng để điều chế các sản phẩm trị ho đạt hiệu quả. Xu hướng thế giới ngày càng ưu tiên sử dụng thuốc từ dược liệu theo phương pháp nghiên cứu điều chế hiện đại.2,3 Thuốc có nguồn gốc tự nhiên, an toàn, hiệu quả và dễ dàng sử dụng. Trong đề tài nghiên cứu điều chế siro chứa cao chiết rễ Bách bộ, cao này đã được đánh giá tác dụng trị ho trên mô hình chuột. Ngoài ra, trong thành phần siro kết hợp với cao Cam thảo và Cát cánh làm tăng thêm tác dụng trị ho, long đờm của chế phẩm.
Công thức thiết kế siro và quy trình điều chế đơn giản giúp việc áp dụng vào quy mô sản xuất lớn dễ dàng, mang thuốc dễ dàng đến tay người tiêu dùng. Bên cạnh đó nguồn dược liệu Bách bộ từ tự nhiên ngày càng giảm đi, sản xuất thuốc phải đảm bảo nguồn cung cấp dược liệu đầy đủ, chất lượng và có nguồn gốc sạch. Vì vậy, tại vùng Đắk Lắk đã được nghiên cứu trồng Bách bộ trên quy mô lớn, đưa khu vực trở thành vùng dược liệu trọng điểm của cả nước, nguồn nguyên liệu luôn được kiểm soát chặt chẽ chất lượng. Sự kiểm soát từ nguyên liệu đầu vào đến sản xuất sản phẩm cuối cùng mang lại nhiều lợi ích lớn và lâu dài.
Sản phẩm thuốc đạt chất lượng phải từ các sản phẩm trung gian, nên quy trình điều chế cao chiết từ dược liệu cần được nghiên cứu, xây dựng phương pháp để thu được cao chiết đạt chất lượng tốt. Cao chiết dược liệu có vị đắng và mùi đặc trưng nên điều chế siro vị ngọt thanh che lấp đi vị đắng của dược liệu và mang lại hiệu quả. 2 nhanh chóng. Vì vậy đề tài : “Nghiên cứu điều chế siro hướng tác động ức chế ho chứa cao định chuẩn từ rễ Bách bộ (Radix Stemonae tuberosae) thu hái tại Đắk Lắk” được thực hiện.
Đề tài được tiến hành với các mục tiêu sau: Mục tiêu tổng quát Điều chế siro chứa cao định chuẩn từ rễ Bách bộ (Radix Stemonae tuberosae) thu hái tại Đắk Lắk hướng tác động điều trị ho. Mục tiêu cụ thể 1. Chiết xuất và tối ưu hóa quy trình chiết, điều chế cao định chuẩn từ dược liệu rễ Bách bộ. Đánh giá tác dụng trị ho cao định chuẩn Bách bộ trên mô hình động vật.
Điều chế siro chứa cao định chuẩn Bách bộ tác động ức chế ho. Tổng quan về dược liệu rễ Bách bộ Danh pháp Danh pháp khoa học: Stemona tuberosa L. Stemonaceae4 Tên Việt Nam: Bách bộ, Danh ba mươi, Dây đẹt ác, Dây trói dâu, cây trăm củ Tên Trung Quốc: Bai Bu 1. Tổng quan về thực vật học Dược liệu Bách bộ thu hái tại Đắk Lắk thuộc loài Stemona tuberosa, thuộc chi Stemona, họ Stemonaceae, bộ Stemonales, liên bộ Pandananae, phân lớp Liliidae, lớp Liliopsida , Giới thực vật.5 Đặc điểm chi Stemona Lour Chi Stemona Lour, tiêu tiêu biểu là Bách bộ ( Steamona tuberosa Lour).6 Thế giới có 3 chi và 30 loài, phân bố ở Nam và Đông Nam Á, Nhiệt đới châu Úc và ven Đại Tây Dương của Bắc Mỹ.
Việt Nam có 1 chi và 4-7 loài. Trên thế giới, Chi Stemona (họ Bách bộ - Stemonaceae) gồm khoảng 30 loài trong đó, Đông Dương có 11 loài: Stemona tuberosa Lour.6 Việt Nam có 7 loài: S.6 Đặc điểm họ Stemonaceae Họ Bách bộ (danh pháp khoa học: Stemonaceae) là một họ trong thực vật có hoa, cây dây leo hay bò. Lá hình tim hay hình lưỡi mác, mọc đối hay mọc vòng. Các gân bên hình cung còn các gân cấp 3 xếp gần vuông góc với gân bên và song song với nhau rất đều.
Hoa lưỡng tính, mẫu 2 hoặc 4, có 2 lá đài. Có 2-4 cánh hoa, 4 nhị và bầu thượng gồm 2 mảnh. Quả nang mở bằng 2 van. 4 Bao gồm 3 - 4 chi và khoảng 25 - 35 loài dây leo hay cây thân thảo.
Các chi có trong họ Bách bộ: Croomia Torr. Đặc điểm loài Stemona tuberosa Mô tả cây Bách bộ là một thứ cây leo, dài 6-8 m, có khi hơn. Thân nhỏ dần. Lá thường mọc đối có cuống, hình trái tim.
Trên mặt lá, ngoài gân chính có 6-8 gân phụ chạy dọc từ cuống lá đến đầu lá, có những gân ngang nhỏ và rõ. Cụm hoa mọc ở kẽ lá gồm 1-2 hoa, lớn, màu vàng đỏ. Bao hoa gồm bốn phiến, 2 phiến ngoài dài 4 cm, rộng 5 mm, 2 phiến trong rộng hơn. Nhị 4, có tua ngắn.
Quả nang có 4 hạt. Rễ củ gồm 10 đến 20 hoặc 30 củ, có khi tới 100 củ dài 15-20 cm đường kính 1,5-2 cm. Màu trắng vàng, vị ngọt sau rất đắng. Rễ Bách bộ Rễ củ hình trụ cong queo, dài 10 cm đến 20 cm, đường kính 1 cm đến 2 cm.
Thường để nguyên cả rễ củ hoặc cắt đôi theo chiều ngang hay bổ đôi theo chiều dọc. Đầu trên đôi khi còn vết tích của cổ rễ, đầu dưới thuôn nhỏ. Mặt ngoài màu vàng nâu nhạt, có nhiều nếp nhăn dọc. Mặt cắt ngang thấy mô mềm vỏ khá dày, màu vàng nâu; lõi giữa màu trắng ngà.7 Vi phẫu Ngoài cùng là lớp bần có chỗ bị rách.
Ở rễ củ non vẫn còn biểu bì gồm những tế bào xếp đều đặn, phía ngoài phủ lớp cutin. Lớp mô mềm vỏ rất dày, chiếm phần lớn vi phẫu gồm các tế bào gần tròn tương đổi đều nhau, có thành mỏng, Các tế bào mô mềm xếp lộn xộn tạo ra những khoảng gian bào nhỏ. Nội bì cấu tạo bởi một lớp tế bào có thành dày hình chữ nhật, xếp đều đận. Libe-gỗ cấu tạo cấp 1, phân hóa hướng tâm.
Bó libe xếp xen kẽ bó gỗ và nằm sát nhau nên giữa chúng không tạo thành. 5 những tia một. Mô mềm tủy cấu tạo bởi những tế bào to nhỏ không đều, thành mỏng, xếp lộn xộn.7 Bột dược liệu Mảnh bần màu vàng gồm tế bào hình nhiều cạnh, thành dày. Mảnh mô mềm tế bào hình tròn, hình chữ nhật, thành mỏng, rải rác có tế bào chứa hạt tinh bột hình trái xoan.
Hạt tinh bột có rốn và vân khá rõ, rốn lệch tâm, vân đồng tâm. Sợi dài có thành dày, khoang rộng. Mảnh mạch điểm. Rải rác có tinh thể calci oxalat hình cầu sai, hình khối.
Thu hái Rễ Bách bộ được khai thác vào mùa thu đông, khi quả đã già và phát tán hạt giống, bằng cách đào rộng xung quanh gốc để lấy được toàn bộ rễ củ. Phương pháp thu hái, đào củ về rửa sạch để nguyên củ hoặc bổ đôi đem phơi hay sấy khô. Lấy Bách bộ khô, rửa sạch, ủ mềm, thái lát dày, phơi khô. Rễ Bách bộ mọng nước, rễ càng lâu năm càng to và có tác dụng dược liệu tốt hơn.5 Công dụng Công năng, chủ trị: Ôn phế, nhuận phế, chỉ ho, sát trùng.
Chủ trị Ho mới hoặc ho lâu ngày, ho gà, ho lao, viêm phế quản mạn tính. Dùng ngoài trị chấy rận, ghẻ lở, giun kim, ngứa âm hộ. Kinh nghiệm dân gian truyền lại công dụng của cây Bách bộ đều trùng khớp với những nghiên cứu khoa học về loài cây này. Nhận định rằng rễ Bách bộ có tác dụng điều trị ho rất hiệu quả.
Rễ Bách bộ có vị ngọt đắng, tính bình qui kinh Phế, một số tác dụng chính của củ Bách bộ: điều trị ho lâu ngày không khỏi, điều trị viêm phế quản mạn tính, điều trị lao phổi, điều trị viêm da, nổi mề đay, tẩy giun, diệt chấy rận, diệt ruồi, muỗi, bọ gậy.5 Đặc điểm sinh thái Bách bộ là loài cây của vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, nên ở Việt Nam, cây phân bố rộng rãi ở cả vùng có khí hậu nhiệt đới điển hình phía Nam, cũng như khí hậu á nhiệt đới ở các tỉnh miền núi phía Bắc. Cây ưa ẩm và sáng, tuy vậy có thể hơi chịu bóng. Bách bộ thường leo lên các cây bụi hoặc cây gỗ nhỏ ở ven rừng, dọc theo. 6 hai bên bờ khe suối, ở cửa rừng kín thường xanh, dưới chân rừng núi đá vôi và bờ nương rẫy.
Độ cao phân bố có thể từ vài chục mét (ở vùng rừng ven biển và đảo) lên tới gần 1000 m sâu trong lục địa.5 Bách bộ ra hoa quả hàng năm. Mùa hoa: tháng 6 – 7; quả: tháng 7 – 9. Khi quả già tự mở để hạt thoát ra ngoài. Cây tái sinh tự nhiên chủ yếu từ hạt và cây chồi sau khi bị cắt, sau khi khai thác rễ củ phần gốc vùi lại vẫn có khả năng tái sinh.5 Đặc điểm thổ nhưỡng tại Đắk Lắk Tỉnh Đắk Lắk nằm trong khu vực Tây Nguyên, là một trong 8 vùng Dược liệu trọng điểm của Việt Nam (Theo Quyết định số 1976/QĐ-TTg ngày 30/10/2013 của Thủ tướng Chính phủ “Phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030”).
Khu vực này ở phía Tây và cuối dãy Trường Sơn, là một cao nguyên rộng lớn, địa hình dốc thoải, lượn sóng, khá bằng phẳng xen kẽ với các đồng bằng thấp ven theo các sông chính, trong đó địa hình của tỉnh Đắk Lắk có hướng thấp dần từ Đông Nam sang Tây Bắc. Khí hậu toàn tỉnh được chia thành hai tiểu vùng khí hậu. Vùng phía Tây Bắc có khí hậu nắng nóng, khô hanh về mùa khô; vùng phía Đông có khí hậu mát mẻ, ôn hòa. Nhiệt độ trung bình hàng năm là 24°C.
Nhìn chung đặc điểm khí hậu vừa bị chi phối của khí hậu nhiệt đới gió mùa, vừa mang tính chất khí hậu cao nguyên với nhiệt độ ôn hoà gần như quanh năm, đã tạo ra các vùng sinh thái nông nghiệp thích hợp với nhiều loại cây trồng. Về tài nguyên đất, Đắk Lắk là nơi được thiên nhiên ưu đãi lớn với diện tích tự nhiên 13.085 km2 trong đó chủ yếu là đất xám, đất đỏ bazan và một số loại đất khác như đất phù sa, đất gley, đất đen. Đất đỏ bazan là loại đất chiếm nhiều thứ hai tại tỉnh và chiếm đến 55,6% diện tích đất đỏ toàn Tây Nguyên, là loại đất có tính chất cơ lý tốt, kết cấu viên cục độ xốp bình quân 62 - 65%, khả năng giữ nước và hấp thu dinh dưỡng cao.