phần mở đầu và kết luận, kết cấu LA bao gồm 4 chƣơng Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 2: Một số cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế về chính sách đối với đào tạo theo nhu cầu xã hội của các trƣờng đại học Chƣơng 3: Thực trạng chính sách đối với đào tạo theo nhu cầu xã hội của các trƣờng đại học Việt Nam Chƣơng 4: Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị hoàn thiện chính sách đối với đào tạo theo nhu cầu xã hội của các trƣờng đại học Việt Nam 9 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án 1. Nghiên cứu nhu cầu xã hội đối với đào tạo đại học và đào tạo đại học theo nhu cầu xã hội Có rất nhiều nghiên cứu liên quan đến GDĐH nói chung và các nội dung khác nhau của phát triển GDĐH đã đƣợc công bố, trong đó có một số nghiên cứu liên quan mật thiết đến NCXH đối với ĐTĐH và ĐTĐH theo NCXH hoặc ĐTĐH đáp ứng NCXH. Nghiên cứu của Gregory A.
Nghiên cứu của Autar S. Nghiên cứu của Bành Tiến Long (2007), “Đào tạo theo nhu cầu xã hội ở Việt Nam: thực trạng và giải pháp” chỉ ra 3 nhóm NCXH cơ bản đối với GDĐT là: “nhu cầu của nhà nƣớc; nhu cầu của DN; nhu cầu của ngƣời học”. Bài báo phân tích “thực trạng hệ thống giáo dục nghề nghiệp xét theo mối quan hệ với ĐT theo NCXH từ đó chỉ ra những thành tựu đã đạt đƣợc, những vấn đề cơ bản cần giải quyết để ĐT theo NCXH”[68]. Nguyễn Thiện Nhân (2008), “Đào tạo theo nhu cầu xã hội - một giải pháp chiến ược đ nâng cao chất ượng và hiệu quả đào tạo hiện nay”, bài báo đề xuất biện pháp thực hiện ĐT theo NCXH: “Thành lập hội đồng trƣờng; DN tham gia xây dựng CTĐT và hỗ trợ trực tiếp quá trình ĐT; ĐT theo đặt hàng của DN; thành lập cơ sở ĐT tại DN; thành lập trung tâm hỗ trợ ĐT và cung ứng nhân lực”[84].
Nghiên cứu của Nguyễn Minh Đƣờng (2008), “Đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội - quan đi m và giải pháp thực hiện” xác định: “NCXH trƣớc hết đƣợc hiểu là nhu cầu nhân lực để phát triển 10 KT-XH của cả nƣớc cũng nhƣ của từng địa phƣơng, từng vùng lãnh thổ và sau đó là nhu cầu của ngƣời lao động đƣợc học tập suốt đời”. Bài báo cho rằng: để ĐT đáp ứng NCXH, “cần phải xây dựng và ban hành chiến lƣợc phát triển nhân lực; thiết lập hệ thống thông tin về thị trƣờng lao động; xây dựng và ban hành hệ thống chuẩn trình độ các ngành ĐT; thiết lập quan hệ nhà trƣờng và DN; cải tiến mục tiêu, nội dung CTĐT; tổ chức ĐT theo mô đun học phần liên thông giữa các trình độ”[37]. Phùng Xuân Nhạ (2009), “Mô hình đào tạo gắn với nhu cầu của doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay”, bài báo phân tích “lợi ích của ĐT gắn với nhu cầu DN, nội dung và cơ chế và các điều kiện cơ bản đảm bảo ĐT gắn với nhu cầu DN”[80]. Phùng Đức Chiến (2008), “Phát tri n nguồn nhân lực chất ượng cao đáp ứng nhu cầu xã hội”, bài báo phân tích “sự hạn chế về chất lƣợng ĐT nhân lực trình độ đại học từ đó đề xuất giải pháp: nhà trƣờng phải thừa nhận DN là khách hàng, xây dựng CTĐT hiệu quả, hỗ trợ từ DN đối với ĐT”[18].
Phan Văn Nhân (2009), “Đào tạo theo nhu cầu xã hội”, bài báo chỉ ra rằng: “NCXH về ĐT, bồi dƣỡng là nhu cầu của cá nhân hay tổ chức về ĐT, bồi dƣỡng”. Bài báo cũng trình bày nội dung, phƣơng pháp xác định nhu cầu ĐT và lập kế hoạch ĐT theo NCXH[80]. Nguyễn Đăng Bằng (2011), “Đào tạo theo nhu cầu xã hội: Nhà trường và doanh nghiệp cần có tiếng nói chung”, bài báo xác định có 3 cách hiểu về ĐT theo NCXH: “Một là, ĐT đúng ngành nghề mà xã hội có nhu cầu, không ĐT thừa, lãng phí; Hai là, ĐT sinh viên ra trƣờng đáp ứng đƣợc yêu cầu về năng lực của nhà tuyển dụng; Bà là, ĐT theo NCXH là ĐT theo đặt hàng của DN, các tổ chức KT-XH”; bài báo phân tích nguyên nhân từ đó đƣa ra một số giải pháp nhằm thực hiện ĐT đáp ứng NCXH: “Chú trọng CTĐT và giảng viên; DN nên đặt hàng cho nhà trƣờng; ngƣời học cần nhận thức là học để làm việc; các trƣờng cần tăng thời gian thực tập nghề và quảng bá thƣơng hiệu đến DN”[3]. Trần Công Chánh (2011), “Các giải pháp quản lý phát tri n đào tạo theo nhu cầu xã hội ở Bạc Liêu”, bài báo chỉ ra rằng: “ĐT theo NCXH bao gồm hai loại hình là ĐT theo nhu cầu thực tế và ĐT theo nhu cầu dự báo”.
Trên cơ sở đó bài báo phân tích: “thực trạng ĐT theo NCXH ở tỉnh Bạc Liêu, chỉ ra những vấn đề bất cập và kiến nghị giải pháp quản lý ĐT theo NCXH ở tỉnh Bạc Liêu”[17]. Phan Minh Hiền (2011), “Phát tri n đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu xã hội”, (LATS chuyên ngành quản lý giáo dục (QLGD)), theo tiếp cận QLGD, đã “nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn làm cơ sở đề xuất giải pháp phát triển 11 ĐT nghề đáp ứng NCXH”[52]. Nguyễn Thế Hệ & cộng sự (2011), “Giải pháp phát tri n đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội đội với hình thức vừa làm vừa học khối ngành kinh tế ở Việt Nam”(Đề tài NCKH cấp bộ), đề tài nghiên cứu “một số vấn đề lý luận, thực tiễn từ đó kiến nghị các giải pháp nhằm phát triển ĐT đáp ứng NCXH đối với hình thức vừa làm vừa học khối ngành kinh tế ở Việt Nam”[49]. Ngô Thị Tuyết Mai (2012), “Thúc đẩy nâng cao chất ượng đào tạo đại học đáp ứng nhu cầu xã hội”, bài báo đã phân tích và chỉ ra nguyên nhân của hiện tƣợng chất lƣợng ĐTĐH Việt Nam đáp ứng ở mức thấp NCXH từ đó: “đề xuất một số giải pháp: nâng cao năng lực quản lý của nhà nƣớc và các TĐH; thực hiện công khai, minh bạch và TNGT; khuyến khích hợp tác ĐT và nghiên cứu với DN; tăng cƣờng liên kết TĐH trong nƣớc với các TĐH danh tiếng trên thế giới”[73].
Dự án phát triển GDĐH theo định hƣớng Nghề nghiệp - Ứng dụng (POHE) ở Việt Nam (giai đoạn 2)(2012), “Hướng tới một hệ thống giáo dục đại học đáp ứng tốt hơn nhu cầu của xã hội: Một số nhận định và khuyến nghị dựa trên kết quả thực hiện Dự án Phát tri n GDĐH định hướng Nghề nghiệp - Ứng dụng (POHE) Giai đoạn 1 (2005-2009)”, đã đƣa ra đánh giá về “những tác động của Dự án Phát triển GDĐH định hƣớng Nghề nghiệp - Ứng dụng (POHE) giai đoạn 1 (2005-2009) từ đó đƣa ra những khuyến nghị để thực hiện Giai đoạn 2 của Dự án”. Trong đó, Báo cáo đánh giá: “sự thành công trong đổi mới GDĐH theo định hƣớng nghề nghiệp - ứng dụng cũng nhƣ chỉ ra thách thức đối với việc thực hiện trong giai đoạn 2”; Báo cáo cũng đƣa ra các khuyến nghị CS, trong đó nhấn mạnh: “vấn đề tự chủ đại học phải đƣợc thực hiện nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của sinh viên và thế giới việc làm”[32]. Hồ Cảnh Hạnh (2012), “Quản lý đào tạo theo nhu cầu xã hội”, bài báo chỉ ra rằng: “quản lý ĐT đáp ứng NCXH thực chất là quản lý cung đáp ứng cầu lực lƣợng lao động xã hội về số lƣợng, cơ cấu ngành nghề và chất lƣợng”; bài báo trình bày kinh nghiệm trong và ngoài nƣớc từ đó đề xuất giải pháp: “xây dựng quy hoạch phát triển nguồn nhân lực; đổi mới mô hình và quy trình tổ chức ĐT; hoàn thiện và phát triển CTĐT; phát triển nguồn lực của cơ sở ĐT; nâng cao năng lực dự báo giáo dục; hỗ trợ và đánh giá chất lƣợng việc làm của sinh viên ra trƣờng”[47]. Filiz GÖLPEK & Nöfer Çiftçioglu (2014) với nghiên cứu “Socio-Economic Factors in Demand for Higher Education: Sample of Gaziantep Province” đã chỉ ra rằng các cá nhân có một hình tƣợng KT-XH cao hơn có dự định tiếp nhận GDĐH nhiều hơn những cá nhân có hình tƣợng KT-XH thấp hơn[123].
Nhƣ vậy các nghiên cứu nêu trên đã phân tích và trình bày một số vấn đề lý luận và thực tiễn về NCXH đối với ĐTĐH, ĐTĐH theo NCXH hoặc đáp ứng NCXH, đáp ứng nhu cầu DN; các nghiên cứu thực trạng ĐTĐH đƣợc thực hiện ở cả phạm vi địa phƣơng, vùng cũng nhƣ phạm vi quốc gia từ đó đƣa ra những đánh giá về ƣu điểm và hạn chế của ĐTĐH trong mối quan hệ với NCXH, nhìn chung các nghiên cứu về thực tiễn đánh giá ĐTĐH ở Việt Nam trong thời gian qua đáp ứng NCXH ở mức hạn chế là do nhiều nguyên nhân, từ đó các tác giả đề xuất giải pháp nâng cao chất lƣợng ĐTĐH nhằm đáp ứng NCXH. Các nghiên cứu này có ý nghĩa rất quan trọng giúp LA hình thành cơ sở lý luận cũng nhƣ phân tích, đánh giá thực trạng về các nội dung khác nhau của đào ĐTĐH theo NCXH và CS đối với ĐT theo NCXH của các TĐH Việt Nam. Trong các công trình thuộc nhóm này, CS của nhà nƣớc, bao gồm các CS về GDĐH nói chung cũng nhƣ các CS liên quan đến ĐT theo NCXH nói riêng không phải là trọng tâm nghiên cứu mà chỉ đƣợc đề cập ở mức độ nhất định trong các nội dung liên quan đến khuyến nghị hoặc đề xuất giải pháp. Nghiên cứu chính sách của nhà nước đối với đào tạo đại học theo nhu cầu xã hội Các nghiên cứu liên quan đến CS đối với phát triển hệ thống GDĐH và các nội dung khác nhau của phát triển GDĐH Các nghiên cứu về CS phát triển hệ thống GDĐH Việt Nam; CS phát triển đại học tƣ thục, đại học ngoài công lập, đại học địa phƣơng đƣợc thực hiện theo các tiếp cận khác nhau.
LATS chuyên ngành Kinh tế chính trị của Nguyễn Bá Cần (2009) “Hoàn thiện chính sách phát tri n giáo dục đại học Việt Nam hiện nay”, nghiên cứu các CS chủ yếu là: “CS tăng trƣởng, CS cơ cấu và CS chất lƣợng”, trong đó LA phân tích thực trạng, chỉ ra những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế từ đó đề xuất phƣơng hƣớng, giải pháp hoàn thiện của CS phát triển GDĐH Việt Nam[13]. Lê Thị Kim Dung (2012), “Hoàn thiện pháp luật về giáo dục đại học ở 13 Việt Nam hiện nay” (LATS chuyên ngành Lý luận và Lịch sử nhà nƣớc và pháp luật), đã phân tích: “cơ sở lý luận và thực tiễn từ đó đề xuất phƣơng hƣớng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về GDĐH ở Việt Nam”[36].