MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của luận văn Huyện Củ Chi nằm ở vùng ngoại ô Tây Bắc của thành phố Hồ Chí Minh, diện tích hơn 43 nghìn hecta, chiếm 20,47% diện tích toàn thành phố với 20 xã và 1 thị trấn. Huyện Củ Chi có những thuận lợi: Vị trí địa lí: Củ Chi là cửa ngõ Tây Bắc thành phố tiếp giáp Tây Ninh, Long An, Bình Dương và thông qua quốc lộ 22 kết nối với Campuchia tại cửa khẩu Mộc Bài tỉnh Tây Ninh nên có nhiều lợi thế về giao thương kinh tế, văn hóa - xã hội, đặc biệt là kết nối giao thông vận chuyển hàng hóa, trao đổi nguồn nhân lực cho các KCN, trong phát triển đô thị đây là lợi thế kết nối có giá trị hội tụ nguồn lực và lan tỏa phát triển. Về điều kiện tự nhiên xã hội: diện tích tự nhiên rộng, quỹ đất chưa sử dụng còn khá lớn, độ cao trung bình so với mặt nước biển từ 8m - 10m Củ Chi là khu vực ít chịu ảnh hưởng bởi tác động của biến đổi khí hậu như triều cường hơn so với các quận, huyện, thành phố còn lại của TP HCM.
Cơ sở hạ tầng: khá phát triển, có cả đường bộ và đường thủy. + Đường bộ: Củ Chi có đường quốc lộ 22 kết nối thành phố Hồ Chí Minh với Campuchia tại cửa khẩu Mộc Bài, các dự án đường vành đai 3, vành đai 4 tạo điều kiện thuận lợi cho việc vận chuyển hàng hóa và phát triển du lịch không chỉ trong nước mà còn hợp tác với nước ngoài. + Đường thủy: sông Sài Gòn với chiều dài 54 km trải dọc theo huyện giúp kết nối được các đô thị ven sông, phát triển các khu vui chơi, khu du lịch sinh thái, vận tải hành khách, vận tải hàng hóa. Về nguồn nhân lực: với dân số đông, độ tuổi còn trẻ, trình độ chuyên môn mặt bằng về kiến thức tương đối cao, Củ Chi có thể cung cấp nguồn nhân lực cho các khu công nghiệp, các nông trại nông nghiệp công nghệ cao.
2 Cũng tại hội nghị xúc tiến đầu tư vào huyện Hóc Môn và huyện Củ Chi đầu năm 2022 Bí thư Thành ủy TP.HCM Nguyễn Văn Nên cho biết tiềm năng phát triển khu vực Tây Bắc TPHCM (Củ Chi, Hóc Môn) trở thành khu đô thị sinh thái, phát triển công nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao và dịch vụ hướng tới hình thành “Đô thị hiện đại và sinh thái” trong tương lai. Thành phố cũng đặt ra nhiệm vụ phải nghiên cứu định hướng phát triển huyện Củ Chi gắn với lộ trình chuyển đổi huyện thành quận hoặc TP, hình thành khu đô thị hiện đại, thông minh, phát triển đồng bộ về hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội, có môi trường sống chất lượng cao, ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững. Và Củ Chi muốn phát triển lên thành đô thị thì phải đạt được Các tiêu chí cơ bản của đô thị a) Vị trí, chức năng, vai trò, cơ cấu và trình độ phát triển kinh tế – xã hội b) Quy mô dân số. c) Mật độ dân số.
đ) Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp. d) Trình độ phát triển cơ sở hạ tầng. Vấn đề đặt ra cho huyện Củ Chi là muốn trở thành đô thị thì bắt buộc phải thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế để đạt được những tiêu chí của cơ cấu kinh tế đô thị. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong thời kỳ chuyển đổi số không chỉ giúp tăng năng suất mà còn làm giảm chi phí, mở ra không gian phát triển cũng như các giá trị mới ngoài những giá trị truyền thống vốn có.
Chính vì vậy Củ Chi phải rõ ràng mục tiêu, nhiệm vụ và các giải pháp phát triển kinh tế - xã hội phù hợp với tình hình số hóa để đánh thức Củ Chi, đưa Củ Chi vươn lên trở thành một đô thị sinh thái phát triển bền vững. Xuất phát từ thực tiễn và bối cảnh hiện nay, tác giả nhận thấy nghiên cứu “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong kỷ nguyên số ở huyện Củ Chi thành phố Hồ Chí 3 Minh giai đoạn 2021 - 2030” vừa có ý nghĩa về mặt thực tiễn, vừa có ý nghĩa về mặt khoa học cũng như đúng với trọng tâm, định hướng của TP Hồ Chí Minh đã đề ra. Tổng quan tình hình nghiên cứu Chuyển dịch cơ cấu ngành KT có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của nền KT, cũng đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu về vấn đề chuyển dịch cơ cấu ngành KT dưới nhiều góc độ, phạm vi khác nhau cụ thể: 2. Các công trình nghiên cứu nước ngoài Trên thế giới, trong số các nghiên cứu lý thuyết về chuyển dịch CCKT cần phải kể đến các công trình và các tác giả tiêu biểu đó là: Theo học giả Pasinetti (1981) CDCCKT là một hệ quả tất yếu của tăng trưởng kinh tế xét đến cùng thì CDCCKT một cách phù hợp sẽ giúp gia tăng hiệu quả sử dụng yếu tố đầu vào, từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Bên cạnh đó theo học giả Kuznets quan niệm CDCCKT là một bộ khung mạch lạc của các bộ phận có quan hệ biện chứng với nhau. Như vậy, CDCCKT là tổng thể các bộ phận của nền kinh tế, có mối quan hệ khăng khít theo những tỉ lệ nhất định về mặt lượng và liên quan chặt chẽ. Các bộ phận kinh tế tác động qua lại với nhau trong cùng một không gian và thời gian nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao. Chenery quan niệm CDCCKT là các thay đổi về CCKT và thể chế cần thiết cho sự tăng trưởng liên tục của tổng sản phẩm quốc dân (GDP), bao gồm sự tích lũy của vốn vật chất và con người, sản xuất, lưu thông, phân phối và việc làm yếu tố phụ trợ.
Bên cạnh còn các quá trình kinh tế - xã hội kèm theo như đô thị hóa, biến động dân số, thay đổi thu nhập, mức thu nhập bình quân đầu người càng cao thì công nghiệp và dịch vụ càng phát triển và chỉ khi công nghiệp và dịch vụ phát triển mới có mức thu nhập bình quân đầu người cao. Học giả Fisher chỉ ra rằng: Các quốc gia sẽ gắn liền với sự phát triển của ba khu vực, đó là: khu vực I (nông nghiệp); khu vực II (khu vực sản xuất hay khu vực công nghiệp) và khu vực III (khu vực dịch vụ). Trong đó, khu vực I là khu vực sản 4 xuất các loại hàng hóa cơ bản và tiềm năng phát triển của khu vực này trong một chừng mực nào đó là bị hạn chế; khu vực II tạo ra các loại hàng hóa lâu bền để phục vụ cho các nhu cầu tiêu dùng trung gian; khu vực III sản xuất các loại hàng hóa xa xỉ và các đầu vào trung gian dưới nhiều loại hình dịch vụ khác nhau, và đây là khu vực có nhiều tiềm năng phát triển trong xã hội hiện đại. Học giả Rostow, W.W cho rằng quá trình phát triển của bất cứ quốc gia nào trên thế giới cũng đều phải trải qua 5 giai đoạn tuần tự gồm: xã hội truyền thống, chuẩn bị cất cánh, cất cánh, trưởng thành và tiêu dùng cao.
Theo lý thuyết này, hầu hết các nước đang phát triển đang trong quá trình CNH nằm ở trong khoảng giai đoạn chuẩn bị cất cánh và cất cánh. Ông cho rằng điều kiện để thực hiện thành công được giai đoạn chuẩn bị cất cánh gồm: (i) Tỉ lệ đầu tư tăng từ 5-10% trong GDP; (ii) Xây dựng được những lĩnh vực đầu tàu (các ngành công nghiệp cơ bản như điện, công nghệ thông tin.); (iii) Phải có bộ máy quản lý năng động, biết sử dụng kỹ thuật và tăng cường quan hệ kinh tế đối ngoại. Ông đã đưa ra những gợi ý quan trọng về sự lựa chọn dạng CCKT hợp lý tương ứng với mỗi giai đoạn phát triển. Học giả George Hondro Yiannis chỉ rằng nội dung xoay quanh vấn đề thay đổi và tái cấu trúc KT về cả lý thuyết và thực nghiệm, về tất cả các khía cạnh KT và chính sách của các nền KT chuyển đổi và mới nổi.
Ngoài những đóng góp chất lượng cao về mô hình KT, tạp chí thảo luận về các cách tiếp cận sáng tạo để phân tích KT và hoạch định chính sách cho sự phát triển và hội nhập của các nền KT đang trong quá trình chuyển đổi. Danh sách một phần các chủ đề bao gồm phân tích KT vĩ mô, các vấn đề tài khóa, tài chính và ngân hàng, phát triển CN và thương mại, và các vấn đề phát triển khu vực và địa phương. Học giả Michael E. Porter nhấn mạnh vai trò của CCKT, nhấn mạnh tới vấn đề về lợi thế so sánh động và ảnh hưởng của nó tới hình thành những ngành, sản phẩm có sức cạnh tranh cao và kết quả là hình thành một CCKTN có khả năng sinh lời cũng như có khả năng cạnh tranh trong mọi tình huống, việc tái CCKT của mỗi nước phải chú ý tới sự phát triển của các chuỗi giá trị toàn cầu.
Việc tái CCKT phải chú ý phát 5 huy lợi thế so sánh, lợi thế cạnh tranh để hình thành sản phẩm công nghiệp chủ lực và có quyết định đúng đắn về sản xuất trong nước hay nhập khẩu. Học giả Just Yifu Lin đề xuất các lý thuyết cơ cấu mới dựa trên các nguyên tắc sau: Thứ nhất, lợi thế so sánh của nền kinh tế được xác định bởi nguồn nhân tố đầu vào và CCKT có sẵn tại bất kỳ mức độ phát triển cụ thể và khác nhau từ mức độ này sang mức độ khác. Thứ hai, mỗi cấp độ phát triển kinh tế là một điểm trong quá trình liên tục, quy mô của phát triển kinh tế trong thực tế mở rộng từ hoạt động nông nghiệp truyền thống có thu nhập thấp đến công nghiệp phát triển có thu nhập cao. Thứ ba, căn cứ vào lợi thế so sánh của mình để xây dựng các ngành công nghiệp là cách tốt nhất để các quốc gia đang phát triển duy trì nâng cấp công nghiệp và tăng trưởng kinh tế.
Học giả Roy J.R, cho rằng những quốc gia có nền công nghệ hàng đầu với năng suất lao động ngày một tăng lên đều đạt được sự tăng trưởng kinh tế nhanh, khoa học công nghệ ngày càng phát triển thì vai trò của công nghệ thông tin ngày càng trở nên quan trọng đối với quá trình phát triển và chuyển dịch CCKT của mỗi quốc gia. Học giả Ricardo D và Hartwell R.