MỞ ĐẦU Bưởi (Citrus maxima) được biết đến là một loại trái cây có giá trị dinh dưỡng cao và tiềm năng trong điều trị các bệnh mãn tính. Thành phần hóa học chính của bưởi bao gồm các hợp chất nhóm flavonoid, các carotenoid và tinh dầu 1,2. Trong dân gian, lá bưởi được sử dụng để xông chữa cảm cúm, vỏ bưởi chữa chứng ăn không tiêu và dịch ép múi bưởi làm thuốc chữa tiêu khát (đái tháo) 3. Ngày nay, qua nhiều nghiên cứu cho thấy bưởi có các tác dụng dược lý nổi bật bao gồm chống oxy hóa, kháng viêm, bảo vệ gan, hạ lipid máu và hạ đường huyết 4,5.
Trong đó, các hợp chất thuộc nhóm flavonoid (naringin, hesperidin, melitidin,…) hiện diện chủ yếu ở vỏ bưởi 2, góp phần quan trọng tạo nên những tác dụng sinh học trên. Tuy nhiên, các hợp chất nhóm flavonoid thường kém tan trong nước, sinh khả dụng đường uống thấp 6 và dễ bị biến đổi bởi các yếu tố như ánh sáng, nhiệt độ và độ pH. Chính vì vậy, để gia tăng tính hiệu quả khi sử dụng các chế phẩm từ bưởi, việc nghiên cứu các dạng bào chế giúp cải thiện độ tan và nâng cao sinh khả dụng đường uống của các hoạt chất sinh học trong cao chiết vỏ bưởi cần được quan tâm. Nhiều công nghệ đã được áp dụng để cải thiện độ tan cũng như sinh khả dụng đường uống của các flavonoid có mặt trong cao chiết vỏ bưởi.
Trong đó có thể kể đến như sử dụng phương pháp kết tủa naringin với polyvinylpyrrolidone (PVP) là giá mang ưa nước 7, bao bọc naringin với phức hợp tan trong nước bao gồm amylose, acid α- linoleic and β-lactoglobulin 6, bao bọc hesperidin với giá mang PLGA/Poloxamer 407 8 hay phức hợp hesperidin – phospholipid (Phytosome) 9. Tất cả những phương pháp trên đều góp phần làm gia tăng hoạt tính sinh học của các flavonoid, tuy nhiên, những nghiên cứu trên đều bắt đầu từ nguyên liệu là những hoạt chất tinh khiết, chưa có nghiên cứu nào thực hiện trên nguyên liệu ban đầu là cao chiết toàn phần từ vỏ bưởi. Phytosome là phức hợp của hoạt chất dược liệu (cấu trúc polyphenol, triterpen…) gắn với phospholipid (PL) ở mức độ phân tử. Trong môi trường nước, phytosome tạo thành dạng micell có cấu trúc tương tự liposome.
Phytosome dược liệu cải thiện được khả năng vận chuyển, hấp thu từ môi trường thân nước trong lòng ống tiêu hóa vào môi trường thân chất béo trong tế bào ruột, sau đó vào trong tuần hoàn. Công nghệ bào chế. 2 hiện đại này đã và đang tạo ra một dòng sản phẩm từ dược liệu có hiệu quả điều trị cao, giảm tác dụng phụ, giảm liều dùng và tăng giá trị của thuốc thảo dược. Trong phytosome, hoạt chất được gắn vào đầu phân cực của phospholipid, trở thành bộ phận cấu tạo của màng, có sự hình thành các liên kết hydro giữa hydroxyl phenol của hoạt chất và ion phosphate trên nhánh phospholipid cho từng phân tử hoạt chất trong cao dược liệu 10.
Chính vì vậy, nghiên cứu bào chế phytosome từ cao chiết vỏ bưởi là một hướng nghiên cứu đầy tiềm năng góp phần nâng cao giá trị sử dụng của dược liệu bưởi. Để làm rõ hơn về kĩ thuật này, đề tài “Nghiên cứu bào chế phytosome từ cao vỏ bưởi (Citrus maxima)” được thực hiện với những mục tiêu chính: 1. Xây dựng và thẩm định quy trình định lượng naringin và melitidin trong phytosome từ cao vỏ bưởi bằng HPLC - PDA. Khảo sát và xây dựng quy trình điều chế phytosome từ cao vỏ bưởi ở quy mô phòng thí nghiệm.
Tổng quan về dược liệu bưởi 1. Mô tả Bưởi thuộc dạng cây gỗ cao 5-10 m hay hơn. Vỏ đôi khi để toát ra một chất gôm. Cành có gai nhỏ mọc đứng ở kẽ lá, có lông rồi nhẵn.
Lá hình trái xoan tù 2 đầu, nguyên, dai; gân bên 8 đôi, gân nhỏ chỉ nổi rõ ở mặt dưới; cuống lá có cánh dài, có lông ở mặt dưới, nhất là trên sống giữa. Hoa mọc thành chùm 6 - 10 hoa; cuống hoa có lông; lá bắc hình vạch, có lông. Hoa trắng, to, rất thơm; lá đài 4-5, tròn, có lông; cánh hoa 5; nhị khoảng 24, rời, ngắn bằng nửa các cánh hoa; đĩa mật dày; bầu hình cầu, có lông, vòi dài, đầu nhuỵ hình đầu, to. Quả gần hình cầu và cầu phẳng, đường kính 15-30 cm, có cùi dày và màu sắc thay đổi tuỳ loại Bưởi, thường có 12 múi, cơm quả chua hay ngọt cũng khác nhau tuỳ loại 3.
Bưởi (Citrus grandis (Burm. (a): Hình toàn cây Bưởi (b): Hình hoa Bưởi (c): Hình quả Bưởi. Thành phần hóa học 1. Các hợp chất nhóm flavonoid Năm 2014, Pan-lin Li và các cộng sự đã xác định các aglycon flavanon chính trong vỏ Bưởi gồm naringenin, hesperetin và eriodictyol 11.
Trong vỏ Bưởi cũng chứa hai loại glycosid flavanon là neohesperidosid và rutinosid. Neohesperosid trong vỏ Bưởi bao gồm naringin, neohesperidin và neoeriocitrin, rutinoside bao gồm eriocitrin, narirutin, hesperidin và neoponcirin 12-14. Ngoài ra, vỏ Bưởi còn chứa flavon tồn tại ở cả dạng aglycon và glycosid, 6 aglycon flavon chính được báo cáo bao gồm sinensetin, nobiletin, tangeretin, apigenin, luteolin và diosmetin; các glycosid flavon gồm có lucinen-2, vicinen-2, apigenin 6-C-glucosyl-7-O-glucosid, diosmetin 6,8-di,-C-glucosid, and diosmetin 6-C-glucosid 14. Năm 2021, Yihan Zhao và các cộng sự đã đánh giá sự tích lũy và tổng hợp carotenoid trong các giai đoạn phát triển của quả Bưởi.
Kết quả nghiên cứu cho thấy hàm lượng carotenoid tổng được tích lũy cao hơn ở quả Bưởi non 15. Các hợp chất flavonoid chính trong trái Bưởi Naringin Hesperidin Rhoifolin Diosmin. Các hợp chất nhóm coumarin Các hợp chất chính thuộc nhóm coumarin được xác định trong vỏ Bưởi bao gồm limettin, meranzin, xanthotoxin, isomeranzin, 7-hydroxycoumarin, mexoticin, paniculin II, epoxyaurapten, meranzin hydrate, auraptene và oxypeucedanin hydrate. Một số chất nhóm furanocoumarin được xác định trong vỏ Bưởi bao gồm bergapten, bergaptol, 6′,7′ dihydroxybergamottin, bergamottin, epoxybergamottin và imperatorin 16-18.
Các hợp chất nhóm carotenoid Một số hợp chất thuộc nhóm carotenoid chính trong Bưởi bao gồm phytoene, phytofluene, zeta-carotene, lycopene, 𝛼-carotene, 𝛽-carotene, lutein, 𝛽-cryptoxanthin, 9-cis-violaxanthin và zeaxanthin 19. Tinh dầu Đa số các cấu tử tinh dầu trong vỏ Bưởi thuộc một lớp hợp chất hữu cơ là terpenoid, bao gồm cả monoterpenoid mạch hở, monoterpenoid đơn vòng, monoterpenoid hai vòng, diterpenoid, sesquiterpenoid mạch hở, sesquiterpenoid đơn vòng, sesquiterpenoid hai vòng và sesquiterpenoid ba vòng 20. Tác dụng chống oxy hóa Năm 2016, Fidrianny và các cộng sự đã nghiên cứu để xác định hoạt tính chống oxy hóa từ những phần khác nhau của Bưởi bằng cách sử dụng DPPH và phosphomolybdenum. Kết quả cho thấy dịch chiết bằng ethyl acetate từ vỏ Bưởi giá trị IC50 thấp nhất là 0,68 µg/ml đối với phương pháp DPPH, trong khi đó giá trị EC50 thấp.
6 nhất là 101,36 µg/ml đối với phương pháp phosphomolybdenum thuộc về dịch chiết bằng dung môi ethyl acetate từ lá Bưởi 21. Năm 2019, Sanjay Kumar và các cộng sự đã đánh giá hoạt tính chống oxy hóa của dịch chiết vỏ Bưởi. Hoạt tính chống oxy hóa của chiết xuất vỏ Bưởi trong cồn được đánh giá bằng cách tính chỉ số acid béo tự do, chỉ số iod và chỉ số p-anisidine của dầu lạc trong thời gian bảo quản 21 ngày ở nhiệt độ phòng. Các mẫu được lấy và phân tích định kỳ sau 7 ngày và sau 21 ngày bảo quản, dầu lạc được thêm vào 1500 và 2000 ppm chiết xuất vỏ Bưởi, cho thấy chỉ số acid béo tự do (2,66 và 2,15%), chỉ số p-anisidine (6,6; 4,68) thấp hơn và chỉ số iod cao hơn (52,8 và 51,46) so với mẫu dầu lạc đối chứng (chỉ số acid béo tự do 9,32%, chỉ số p- anisidine 9,85 và chỉ số iod 33,9) 5.
Tác dụng kháng viêm Năm 2018, M Ibrahim và các cộng sự đã nghiên cứu tác dụng giảm đau và kháng viêm của dịch chiết vỏ Bưởi bằng methanol. Kết quả cho thấy dịch chiết ở mức 500 mg/kg cho thấy hoạt tính giảm đau đạt mức 73,34% chống lại cơn đau do acetic acid gây ra ở chuột so với chứng dương diclofenac sodium thể hiện hoạt tính 87,13% ở liều 10 mg/kg. Tác dụng chống viêm của dịch chiết tương đương với thuốc ibuprofen đối chứng và hiệu quả duy trì trong 2-4 giờ 22. Năm 2019, Momoko Ishida và các cộng sự đã nghiên cứu tác dụng chống viêm của dịch chiết nước từ vỏ Bưởi in vitro và in vivo.
Kết quả cho thấy dịch chiết nước từ vỏ Bưởi ức chế đáng kể việc sản xuất các cytokin gây viêm như interleukin (IL)-6 và yếu tố hoại tử khối u (TNF)-α bởi các tế bào RAW264.7 được LPS kích hoạt mà không gây độc tế bào. Dịch chiết nước từ vỏ Bưởi cũng ức chế đáng kể mức độ biểu hiện mRNA của IL-6 và TNF-α trong tế bào, ức chế sản xuất các cytokin gây viêm bằng cách ức chế mức độ biểu hiện gen. Phân tích Immunoblot cho thấy tác dụng chống viêm trên đại thực bào thông qua việc ức chế quá trình phosphoryl hóa p38 và chuyển vị trí của NF-κB vào nhân. Việc uống dịch chiết nước từ vỏ Bưởi đã ức chế nồng độ trong huyết thanh của các cytokin gây viêm và cải thiện tỷ lệ sống sót ở chuột trong mô hình hội chứng phản ứng viêm toàn thân (SIRS).
Ngoài ra, các thí nghiệm in vivo cho thấy việc. 7 uống dịch chiết nước từ vỏ Bưởi ức chế nồng độ cytokin gây viêm trong huyết thanh và cải thiện tỷ lệ sống sót ở chuột trong mô hình SIRS 23. Hạ lipid máu Năm 2020, Peace Nwanneka Ani và cộng sự đã nghiên cứu trên mô hình chuột Wistar bị gây bệnh cảnh tiểu đường bằng alloxan. Kết quả cho thấy chiết xuất từ vỏ Bưởi làm giảm đáng kể mức đường huyết, đồng thời làm tăng tỷ lệ cholesterol lipoprotein tỷ trọng cao (4,43%) và giảm cholesterol toàn phần (30,86%), triglyceride (10,58%) và cholesterol lipoprotein tỷ trọng thấp (10,20%) 24.
Năm 2020, Li-Yun Lin và các cộng sự đã nghiên cứu khả năng hạ lipid máu của Bưởi thông qua mô hình chuột Wistar và mô hình HepG2. Kết quả nghiên cứu cho thấy tất cả các bộ phận của quả Bưởi đều tăng cường khả năng bài tiết lipid thô và sterol trong phân. Do đó, quả Bưởi có thể đóng vai trò như một chất chống tăng lipid máu khá hứa hẹn 25. Năm 2020, Fansheng Kong và cộng sự đã làm nghiên cứu cho thấy chất naringin (một flavonoid có trong vỏ Bưởi) giúp tăng đáng kể lượng lipoprotein tỷ trọng cao (HDL)-cholesterol đồng thời làm giảm mức cholesterol toàn phần, tổng chất béo trung tính và lipoprotein tỷ trọng thấp (LDL)-cholesterol ở chuột mắc bệnh tiểu đường 26.
Hạ đường huyết Năm 2013, Temitope A. Oyedepo và cộng sự đã đánh giá tác động của nước ép Bưởi đối với sự dung nạp glucose và lipid ở chuột bị gây bệnh đái tháo đường tuýp II bằng streptozotocin. Các nhóm chuột khác nhau được điều trị bằng nước ép Bưởi có nồng độ 25% và 50% trong 8 tuần.