ĐẶT VẤN ĐỀ Fenofibrat (FB) là một trong những thuốc hạ lipid máu được sử dụng phổ biến. Tuy nhiên, sinh khả dụng đường uống của FB thường thấp và bị ảnh hưởng bởi thức ăn [1]. Theo phân loại sinh dược học bào chế, FB thuộc nhóm II: có độ tan kém, tính thấm tốt nên các nghiên cứu tập trung cải thiện độ tan và độ hòa tan FB để tăng sinh khả dụng đường uống [2], [3]. FB đã được cấp phép là thuốc điều trị tăng lipid máu với liều sử dụng hàng ngày là 300 mg từ năm 1993 [1].
Cho đến nay, các kỹ thuật bào chế hiện đại như hệ phân tán rắn, bào chế nano FB đã được sử dụng để cải thiện sinh khả dụng, nên liều quy ước đã thay đổi từ 300mg đến 200mg, 160mg, 150mg, 145mg, 130mg, 120mg, 90mg. Trong số đó, các biệt dược có sinh khả dụng FB cải thiện tốt nhất đều có chứa tiểu phân nano FB được bào chế bằng phương pháp nghiền ướt tạo nano tinh thể. Biệt dược chứa FB dạng tiểu phân nano lần đầu tiên thương mại hóa vào năm 2004 [4]. Ngoài ra, FB cũng được nghiên cứu nhiều phương pháp tăng sinh khả dụng như bào chế tiểu phân nano như nano lipid, hệ tự vi nhũ hóa, liposome, cubosome, hấp phụ silica lỗ xốp, nano polyme.
Các hệ tiểu phân nano này đều thể hiện khả năng tăng sinh khả dụng đáng kể, tuy nhiên hạn chế của các phương pháp trên là tỉ lệ FB trong hệ nano thấp, sử dụng nhiều tá dược trong khi FB là thuốc phải sử dụng lâu dài, nên các hệ nano trên chưa được ứng dụng sản xuất biệt dược chứa FB [5], [6], [7], [8]. Ở Việt Nam, các tác giả đã bắt đầu nghiên cứu cải thiện sinh khả dụng FB bằng kĩ thuật tạo vi hạt, hệ phân tán rắn, bào chế tiểu phân nano [2]. Đến nay, theo thống kê các số đăng ký thuốc, có 143 số đăng thuốc FB trong đó có chỉ 10 số đăng ký fenofibrat dạng nano hàm lượng 145 mg là thuốc nước ngoài hoặc thuốc trong nước được sản xuất từ nhà máy liên doanh [9]. Với sự tiếp cận, nghiên cứu và ứng dụng công nghệ nano ngày càng nhanh trong lĩnh vực bào 1 chế dược phẩm ở Việt Nam, cùng sự gia tăng của bệnh rối loạn lipid máu, việc nghiên cứu bào chế chế phẩm chứa nano FB có sinh khả dụng cao, có khả năng ứng dụng công nghiệp, góp phần thực hiện mục tiêu sản xuất được thuốc generic sử dụng công nghệ cao của chính phủ là rất cần thiết [10].
Với các lý do trên, luận án: “Nghiên cứu bào chế và đánh giá sinh khả dụng viên nén chứa tiểu phân nano Fenofibrat” được thực hiện với các mục tiêu sau: 1. Bào chế và đánh giá được các đặc tính của tiểu phân nano fenofibrat. Bào chế được viên nén chứa tiểu phân nano FB hàm lượng 145 mg. Đánh giá được sinh khả dụng viên nén chứa tiểu phân nano fenofibrat trên động vật.
Tổng quan về fenofibrat 1. Tính chất hóa lý Hình 1.Công thức cấu tạo fenofibrat Công thức phân tử: C20H21ClO4. Khối lượng phân tử: 360,8. Tên khoa học: Isopropyl 2-[4-(4-chlorobenzoyl) phenoxy]-2-methylpropanoat [11].
Tính chất: FB là bột kết tinh màu trắng, thực tế không tan trong nước (độ tan <0,5 mg/L), tan ít trong ethanol và methanol, tan tốt trong methylenclorid, aceton, benzen, cloroform [11]. FB thân dầu, trung tính, hệ số phân bố Dầu/Nước logP = 5,24. FB thuộc nhóm II trong hệ thống phân loại sinh dược học bào chế. Bền vững ở nhiệt độ thường, nhiệt độ nóng chảy 79-82ºC [11], [2].
FB có khối lượng riêng 1,177 g/cm3 [12]. FB kết tinh có 4 dạng thù hình, trong đó dạng I bền nhất, có nhiệt độ nóng chảy khoảng 80oC và là dạng chủ yếu được thương mại hóa [13]. Tác dụng dược lý FB là một dẫn chất của acid fibric, có tác dụng hạ lipid máu. Sau khi uống FB nhanh chóng bị thuỷ phân bởi các enzym esterase tại gan thành một chất chuyển hoá có hoạt tính là acid fenofibric (AFENO) [11], [1].
Cơ chế tác dụng: fibrat có chức năng chính như là chất gắn kết với thụ thể PPAR–α (peroxisome proliferator activated receptor–α). Chúng tăng điều tiết 3 lipoprotein lipase, apoA–I và apoA–II và giảm điều tiết apoC–III, một chất ức chế quá trình phân giải lipid. Tác dụng chính của fibrat là tăng oxy hoá acid béo ở gan và cơ trơn, làm tăng phân giải triglycerid thông qua lipoprorein lipase và giảm phân giải lipid nội bào trong các mô mỡ [11], [1]. Tác dụng: các dẫn xuất của acid fibric (gemfibrozil, clofibrat, FB, bezafibrat, ciprofibrat) có tác dụng giảm đáng kể VLDL, giảm triglycerid từ 20 – 30%, giảm LDL khoảng 10–15% và tăng HDL khoảng 10%.
Ngoài ra, FB còn có những tác dụng khác như: làm chậm sự tiến triển của chứng xơ vữa động mạch ở bệnh nhân đái tháo đường tuýp II [11]. Có thể làm tăng creatinin và homocystein nhưng không tăng nguy cơ với các triệu chứng của bệnh suy thận [11]. Liều dùng: - Người lớn: liều dùng hàng ngày phụ thuộc vào loại chế phẩm: 1 viên Lipanthyl 200M (chứa FB dạng vi hạt) hoặc 1 viên Lipanthyl Supra 160 mg (chứa FB kích thước micromet), 1 viên Lipanthyl NT 145 mg (chứa tiểu phân nano FB) hoặc 3 viên 100 mg (dạng thuốc quy ước) [11]. Dược động học Hấp thu FB được hấp thu ngay ở đường tiêu hóa cùng với thức ăn.
Hấp thu thuốc bị giảm nhiều nếu uống sau khi nhịn ăn qua đêm. Thuốc nhanh chóng bị thủy phân bởi enzym carboxylesterase 1 ở gan thành AFENO có hoạt tính. Nồng độ đỉnh trong huyết tương xuất hiện khoảng 5 giờ sau khi uống thuốc. Trên người tình nguyện uống liều uống 300 mg ở trạng thái đói có Cmax 6 - 6,9 mg/L, Tmax 4-6 giờ [1], [11], [14].
Phân bố Khi sử dụng liên tục, nồng độ AFENO trong máu đạt giá trị ổn định sau 9 ngày, cao gấp đôi so với sử dụng 1 liều. 99% AFENO gắn vào albumin ở người bình thường và người bị mỡ máu [4], [14]. 4 Chuyển hóa Sau khi hấp thu qua đường uống, fenofibrat bị chuyển hóa nhanh qua gan bởi enzyme carboxyesterase thành AFENO, không tìm thấy FB trong huyết tương [4], [14]. AFENO hoặc bị glucuronid hóa hoặc có nhóm carbonyl bị khử thành benzhydrol và sau đó được glucuronid hóa.
Quá trình glucuronid hóa các chất chuyển hóa của FB được thực hiện bởi bởi UGT1A9. Quá trình khử hóa nhóm carbonyl chủ yếu thông qua CBR1 và một phần nhỏ bởi AKR1C1, AKR1C2, AKR1C3 và AKR1B1 [1]. Thải trừ Sau khi hấp thu, FB được bài tiết chủ yếu qua nước tiểu dưới dạng chất chuyển hóa, chủ yếu là AFENO và acid fenofibric glucuronid. Sau khi dùng fenofibrat có đánh dấu phóng xạ, khoảng 60% FB xuất hiện trong nước tiểu và 25% được bài tiết qua phân.
AFENO đào thải chủ yếu theo nước tiểu (70% trong vòng 24 giờ, 88% trong vòng 6 ngày), chủ yếu dưới dạng liên hợp glucuronid, ngoài ra còn có AFENO dưới dạng khử và chất liên hợp glucuronid của nó. AFENO được thải trừ với thời gian bán thải là 20 giờ, nhưng thời gian này tăng lên rất nhiều ở người mắc bệnh thận và AFENO tích lũy đáng kể ở người bệnh suy thận uống FB hàng ngày. Ở người cao tuổi, độ thanh thải là 1,2 L/giờ, ở người trẻ tuổi là 1,1 L/giờ [1], [4], [11], [14]. Sinh khả dụng của fenofibrat liên quan đến các chủng tộc chưa được nghiên cứu, tuy nhiên fenofibrat không bị chuyển hóa bởi enzym nào mà thay đổi do khác biệt chủng tộc [4], [14].
Tổng hợp các thuốc fenofibrat có sinh khả dụng cao trên thị trường Luận án đã thống kê từ một số cơ sở dữ liệu về số đăng ký thuốc như FDA, drugbank. Các thuốc FB đã và đang được lưu hành trên thế giới có sinh khả dụng được cải thiện, tương đương với thuốc FB dạng quy ước được tóm tắt trong bảng 1.1 dưới đây: 5 Bảng 1.Bảng tổng hợp một số thuốc fenofibrat đang lưu hành Tên thuốc, Kích Phương Đặc điểm Tài liệu hàm lượng thước tiểu pháp bào sinh khả dụng tham khảo FB phân chế Tricor Kích thước Tạo hạt tầng Cao hơn US6652881 54,160mg micro ~5 sôi, dập lipanthyl 200 ở [15] µm thẳng cùng liều Tricor hoặc <2000 nm, Nghiền bi, SKD tương US7320802 lipanthyl 48, D50 < 500 tạo hạt tầng đương Tricor 160 [16] 145mg nm sôi, dập mg, không ảnh thẳng hưởng bởi thức ăn Fenoglide 40, Hệ phân Đun chảy, SKD cao hơn US9173847 120mg tán rắn tạo hạt tầng Tricor 160, tương [17] sôi, dập đương Antara thẳng 130 Antara Kích thước Nghiền bi, SKD tương US7863331 130mg, 43mg nano tạo hạt tầng đương Tricor [18] sôi, dập viên 160, không ảnh hưởng bởi thức ăn Antara 30mg, Kích thước Nghiền bi, Sinh khả dụng US9314447 90mg nano tạo hạt tầng tương đương [19] sôi, dập viên Antara 130, không ảnh hưởng bởi thức ăn Lipofen Hệ phân Dạng lidose, Tương đương EP0801562 50mg,150mg tán rắn đun chảy, Tricro 160 [20] đóng nang Nhận xét: hai phương pháp chủ yếu được dùng để cải thiện sinh khả dụng các thuốc FB đang lưu hành là phương pháp làm giảm kích thước tiểu phân bằng phương pháp nghiền ướt tạo nano tinh thể và bào chế hệ phân tán rắn. Trong đó, việc tạo kích thước nano có ưu điểm là khắc phục được ảnh hưởng của thức ăn đến sinh khả dụng của thuốc. Đây là một trong các lợi ích của việc bào chế các thuốc có độ tan kém thành dạng có kích thước nano [21].
Phương pháp đánh giá sinh khả dụng thuốc fenofibrat FB là thuốc có sinh khả dụng bị ảnh hưởng bởi thức ăn, sinh khả dụng ở trạng thái no cao hơn khi đói. Dạng bào chế chứa tiểu phân nano đã khắc phục được nhược điểm này. Theo hướng dẫn của FDA về thử tương đương sinh học của thuốc FB, cần thực hiện ở trạng thái no và đói. Đối với dạng viên nén, FDA quy định thuốc đối chứng là viên nén Tricor 145 mg [3].
Mô hình nghiên cứu a. Thử tương đương sinh học [3]. Áp dụng mô hình nghiên cứu mù đơn, chéo đôi, ngẫu nhiên, đơn liều, hai giai đoạn [3]. Thời gian nghỉ giữa hai lần dùng thuốc là 14 ngày.
Thuốc đối chứng: theo hướng dẫn của Cục quản lý Dược, thuốc đối chứng là viên nén Lipanthyl 145 mg [22]. Quy trình uống thuốc: Người tình nguyện được lựa chọn đủ tiêu chuẩn, được đánh số và chia ngẫu nhiên vào hai nhóm. Nhóm 1 uống thuốc thử (A) ở đợt thứ nhất và thuốc đối chứng (B) ở đợt thứ hai còn nhóm 2 thì uống theo thứ tự ngược lại. Đối với thử nghiệm ở trạng thái đói, người tình nguyện được nhịn đói ít nhất 10 giờ.
Đối với thử nghiệm ở trạng thái no, người tình nguyện được cho uống thuốc sau 30 phút ăn. Lấy mẫu và bảo quản mẫu: Số lượng mẫu lấy phải đủ để có thể mô tả đầy đủ đường biểu diễn nồng độ thuốc trong huyết tương theo thời gian [23].