CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Chương này nhóm tác giả tập trung làm rõ nội hàm, đặc điểm, ý nghĩa của đối tượng nghiên cứu; phân tích các quyền cụ thể của NTD trong TMĐT và các quy định pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD trong TMĐT theo pháp luật dân sự Việt Nam. Từ đó, tạo tiền đề cho việc đánh giá quy định của pháp luật, cùng với thực tiễn áp dụng pháp luật và đưa ra những kiến nghị tại chương 2 của đề tài.1 Khái niệm và đặc điểm của thương mại điện tử 1.1 Khái niệm thương mại điện tử Với tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ, TMĐT là một hình thức giao dịch dân sự hiệu quả, chiếm ưu thế trong hoạt động kinh tế và trở thành một lĩnh vực tiên phong của nền kinh tế, tạo động lực phát triển kinh tế và dẫn dắt chuyển đổi số trong doanh nghiệp. Thuật ngữ về kinh doanh điện tử xuất hiện, tạo ra sự thay đổi lớn trong thói quen mua sắm của NTD trong thị trường ở Việt Nam cũng như trên thế giới với mục tiêu thúc đẩy chuyển đổi số và nâng cao chất lượng của NTD gần như trở thành một động lực trong phát triển kinh tế của các quốc gia hiện nay cho thấy tầm quan trọng và sức ảnh hưởng của nền tảng này.
Vậy TMĐT được hiểu là gì? Hiện nay, Luật BVQLNTD năm 2010, Luật An ninh mạng năm 2018, Luật Công nghệ thông tin năm 2006 và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đều chưa đưa ra một định nghĩa cụ thể thế nào là “TMĐT”. Do đó, để làm sáng tỏ khái niệm này, nhóm tác giả tiến hành tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau. Tuy nhiên, nhóm tác giả thống nhất sử dụng thuật ngữ TMĐT để phân tích và nghiên cứu trong đề tài. Ở góc độ thuật ngữ, “thương mại” được hiểu là giao dịch được thực hiện giữa nhiều đối tác kinh doanh.
Vì vậy, TMĐT cũng được hiểu là mua bán trên mạng hoặc 1Trần Văn Hòe, Nguyễn Văn Thoan (2009), Giáo trình Thương mại điện tử căn bản, Nxb. Hà Nội, Hà Nội, tr. 6 mua bán thông qua phương tiện điện tử, đây là cách hiểu theo nghĩa hẹp 2. Theo nghĩa rộng, TMĐT còn được hiểu không chỉ là việc trao đổi hàng hóa mà còn là dịch vụ khách hàng, kết nối đối tác kinh doanh,.
bao gồm tất cả các hoạt động kinh tế nhằm mục tiêu sinh lợi của chủ thể kinh doanh trên thị trường. Theo cách hiểu này, đối với các doanh nghiệp, khi sử dụng phương tiện điện tử và mạng vào các hoạt động kinh doanh như marketing, bán hàng, phân phối,. được coi là tham gia TMĐT. 3 Ở góc độ lý luận, có thể nêu ra một số khái niệm như sau: Theo luật Việt Nam, tại khoản 6, khoản 10 Điều 4 Luật GDĐT năm 2005, giao dịch điện tử là giao dịch được thực hiện bằng phương tiện điện tử.
Bên cạnh đó, luật giải thích phương tiện điện tử là phương tiện hoạt động dựa trên công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện từ hoặc công nghệ tương tự. Khoản 1 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005 giải thích hoạt động thương mại là các hoạt động mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư. nhằm mục đích sinh lợi. Theo Nghị định 52/2013/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung Nghị định 85/2021/NĐ-CP) về TMĐT thì TMĐT là việc tiến một phần hoặc toàn bộ quy trình của hoạt động thương mại bằng phương tiện điện tử có kết nối với mạng internet, mạng viễn thông di động hoặc các mạng mở khác, hoạt động có liên quan đến thương mại và sử dụng chứng từ điện tử.
Từ các quy định của pháp luật Việt Nam, khái niệm về TMĐT được giải thích một cách đơn giản là các hoạt động thương mại trong đó có sử dụng phương tiện điện tử (dịch vụ thông mạng internet và các phương tiện điện tử khác). Luật mẫu về TMĐT của Ủy ban Liên Hợp quốc về Luật Thương mại Quốc tế (UCITRAL) năm 1996 diễn giải khái niệm TMĐT theo nghĩa rộng để bao quát các vấn đề phát sinh từ mọi giao dịch mang tính chất thương mại dù có hay không có hợp đồng. Liệt kê các giao dịch bao gồm các giao dịch về thương mại, cung cấp hoặc trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ; thỏa thuận phân phối; đại diện hoặc đại lý thương mại, ủy thác hoa hồng; cho thuê dài hạn; xây dựng các công trình; tư vấn; kỹ thuật công trình; đầu tư; cấp vốn; ngân hàng; bảo hiểm;… Theo cách định nghĩa này có thể thấy phạm vi của TMĐT 2 Trần Văn Hòe (2007), Giáo trình Thương mại điện tử căn bản, Nxb. Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội, tr.
3 Vũ Thủy Tiên (2009), Giáo trình Thương mại điện tử căn bản, Nxb. Hà Nội, Hà nội, tr. 7 rất rộng, bao quát hầu hết các hoạt động của nền kinh tế, hoạt động về cung cấp và trao đổi hàng hóa chỉ là một phần trong các hoạt động của TMĐT. Theo tổ chức kinh tế thế giới (WTO), khái niệm TMĐT được định nghĩa trong phạm vi hẹp hơn: “Thương mại điện tử bao gồm việc sản xuất, quảng cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm được mua bán và thanh toán trên mạng Internet, nhưng được giao nhận một cách hữu hình, cả các sản phẩm giao nhận cũng như những thông tin số hoá thông qua mạng Internet”.
Căn cứ theo định nghĩa này, TMĐT có thể hiểu là một chuỗi hoạt động từ sản xuất, qua các khâu trung gian đến mua và bán hàng hóa được thực hiện thông qua hình thức trực tuyến (internet), là mô hình kinh doanh cho phép các doanh nghiệp và NTD trao đổi thông tin, giao dịch qua mạng điện tử. Theo Ủy ban Châu Âu (EC), định nghĩa TMĐT là việc mua bán, trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ giữa các doanh nghiệp, gia đình, cá nhân, tổ chức bằng các giao dịch điện tử thông qua mạng internet hoặc phương tiện trung gian như điện thoại, điện báo,. Thuật ngữ này hiểu theo nghĩa rộng là tất cả các giao dịch và hoạt động thương mại được thực hiện thông qua mạng điện tử và bao gồm nhiều phương tiện khác nhau. Tương tự như vậy, theo Ủy ban Thương mại điện tử của Tổ chức Hợp tác Kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC) định nghĩa: “Thương mại điện tử bao gồm các giao dịch thương mại để trao đổi hàng hóa và dịch vụ giữa các nhóm (cá nhân) có tính chất điện tử chủ yếu thông qua các hệ thống dựa trên Internet; các kỹ thuật truyền thông có thể được gửi qua email, EDI, Internet và Extranet có thể được sử dụng để hỗ trợ TMĐT.
Theo Ủy ban Kinh tế và Xã hội Châu Á và Thái Bình Dương Liên Hợp Quốc (UNESCAP), cũng đã định nghĩa TMĐT là quá trình sử dụng các phương pháp và thủ tục điện tử để tiến hành tất cả các hình thức hoạt động kinh doanh. Từ những khái niệm nêu trên, khái niệm TMĐT được lý giải theo hai hướng là nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Trong đề tài này, có thể đưa ra khái niệm về TMĐT theo nghĩa rộng như cách định nghĩa của UCITRAL như sau: TMĐT là việc tiến hành các giao dịch thương mại thông qua internet và các phương tiện điện tử khác. Tuy nhiên, TMĐT không chỉ giới hạn trong các hoạt động thương mại mà bao quát các giao dịch mang tính chất thương mại.
TMĐT chú trọng mua bán trực tuyến, tập trung ở bên ngoài, hình thức nhiều hơn. Các kỹ thuật thông tin liên lạc như là email, trao đổi dữ liệu (EDI), Internet 8 và Extranet có thể được dùng để hỗ trợ TMĐT4. TMĐT liên quan đến việc chia sẻ thông tin kinh doanh, duy trì các mối quan hệ kinh doanh và thực hiện các giao dịch kinh doanh bằng mạng viễn thông. Ngoài ra, TMĐT (E-commerce) thường bị hiểu nhầm với kinh doanh điện tử (E- Business), TMĐT có thể được dùng theo một vài hoặc toàn bộ những nghĩa như là hoạt động bán lẻ trực tuyến hoặc kinh doanh qua các cửa hàng trên trang web với các danh mục trực tuyến được tập trung thành các "trung tâm mua sắm ảo".
Trong hoạt động kinh doanh đó có sự thu thập dữ liệu cá nhân của NTD, sự trao đổi dữ liệu, cung cấp thông tin về hàng hóa, sản phẩm mà bên kinh doanh cung ứng qua phương tiện điện tử, nền tảng số nhằm thúc đẩy việc tiếp cận và thiết lập mối quan hệ với khách hàng mà không cần thực hiện một cách trực tiếp. Kinh doanh điện tử bao gồm toàn bộ chiến lược và TMĐT là một thành phần quan trọng của kinh doanh điện tử. Kinh doanh điện tử mang nghĩa bao hàm rộng hơn, TMĐT là chi tiết của hệ thống kinh doanh, là nhánh hoạt động riêng lẻ mang một phần đặc tính vốn có của kinh doanh điện tử.2 Đặc điểm của thương mại điện tử Quá trình hội nhập đã mở ra những cơ hội lớn cho sự phát triển của thế giới. Cùng với sự ra đời của Internet, một nền tảng các website điện tử ra đời.
Trang web điện tử với giao diện trên Internet để thông qua đó người dùng có thể thực hiện việc tương tác, giải trí, chia sẻ, trao đổi, tìm hiểu, nghiên cứu thông tin, thực hiện các chương trình trực tuyến khác nhau,… Cho đến thời điểm hiện tại, các hình thức này không còn xa lạ với người dùng, chúng đã trở thành một phần không thể thiếu trong các hoạt động của đời sống hàng ngày. Tùy thuộc vào đặc điểm và tính ứng dụng khác nhau mà mỗi trang web được phân loại khác nhau. Trong đó, các trang web TMĐT dần trở nên phổ biến và tính ứng dụng của nó đã lý giải cho sự tăng trưởng một cách ấn tượng trong những năm gần đây. TMĐT là một phần không thể thiếu trong chính sách phát triển thương mại của nhiều quốc gia, trở thành một phần của cuộc cách mạng công nghệ, đại diện cho sự 4Phạm Thị Hà An, “Thương mại điện tử và xu hướng phát triển ở Việt Nam”, [https://eba.vn/nghien-cuu/194-th%C6%B0%C6%A1ng- m%E1%BA%A1i-%C4%91i%E1%BB%87n-t%E1%BB%AD-v%C3%A0-xu- h%C6%B0%E1%BB%9Bng-ph%C3%A1t-tri%E1%BB%83n-%E1%BB%9F- vi%E1%BB%87t-nam] (Truy cập ngày 15/4/2023) 9 thành công vượt trội trong thời đại kỹ thuật số, TMĐT đã thay đổi và vẫn đang thay đổi cách thức kinh doanh được tiến hành trên khắp thế giới.
Internet trở thành một động lực thúc đẩy TMĐT trở thành một trong những kênh kinh doanh có tiềm năng nhất, đồng thời tăng cường thúc đẩy các doanh nghiệp truyền thống chuyển đổi số. Đây cũng là yếu tố tạo nên sự khác biệt của TMĐT đối với các hoạt động thương mại truyền thống. Sự khác biệt đó được nhận diện thông qua các đặc điểm đặc trưng của TMĐT như sau.