CHƯƠNG 1 CĂN CỨ XÁC ĐỊNH TÀI SẢN RIÊNG CỦA VỢ, CHỒNG THEO PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH Tài sản của vợ chồng bao gồm tài sản chung và tài sản riêng của mỗi bên vợ, chồng. Luật ghi nhận vợ chồng có quyền có tài sản riêng nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng về tài sản của vợ, chồng. Mặt khác, "tạo điều kiện cho vợ chồng được quyền tự định đoạt tài sản riêng của mình với tư cách là chủ sở hữu, không bị lệ thuộc bởi ý chí của bên kia, cũng như sự linh hoạt trong các quan hệ gia đình và xã hội có liên quan đến vấn đề tài sản. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc sở hữu riêng không bị hạn chế về số lượng, giá trị.
Ngoài ra, hai cá nhân sau khi kết hôn, bên cạnh tư cách vợ, chồng, cả hai vẫn còn là một công dân cho nên quyền và nghĩa vụ công dân của họ vẫn tồn tại". Vì vậy, việc quy định căn cứ để xác lập tài sản riêng của vợ, chồng là điều cần thiết. Căn cứ xác định tài sản riêng của vợ, chồng theo pháp luật hiện hành Cuộc sống chung giữa vợ chồng "khi quan hệ hôn nhân được xác lập đòi hỏi cần có một khối tài sản nhằm đảm bảo nhu cầu đời sống của gia đình. Ngoài thỏa mãn nhu cầu về tinh thần, thì vấn đề vật chất, kinh tế của vợ chồng và nghĩa vụ chăm sóc lẫn nhau giữa vợ chồng; nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng các con là yếu tố rất cần thiết"… Trên cơ sở nghiên cứu và phân tích các quy định của pháp luật HG & GĐ hiện hành thì chúng ta có thể đưa ra một số căn cứ xác định tài sản riêng của vợ, chồng như sau: 1.
Căn cứ vào thời kỳ hôn nhân Hôn nhân thường là sự kết hợp giữa một người đàn ông được gọi là chồng và một người phụ nữ được gọi là vợ. Hôn nhân là sự kết hợp của các cá nhân về mặt tình cảm, xã hội hoặc tôn giáo một cách hợp pháp. Căn cứ vào khoản 1 Điều 3 Luật HN & GĐ năm 2014, được hiểu là “Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn”. Đồng thời, theo quy định Điều 36 Hiến pháp năm 2013, hôn nhân dựa trên 7 nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ.
Pháp luật Việt Nam hiện nay chỉ công nhận chế độ hôn nhân một vợ một chồng. Khái niệm thời kỳ hôn nhân được quy định tại khoản 13 Điều 3 Luật HN & GĐ năm 2014:“Thời kỳ hôn nhân là khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng, được tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt kết hôn”. Theo đó, thời kỳ hôn nhân là thời gian quan hệ vợ chồng tồn tại, bắt đầu từ khi kết hôn và chấm dứt khi một bên vợ hoặc chồng chết. Trong trường hợp vợ hoặc chồng xin ly hôn thì hôn nhân chấm dứt trước pháp luật, kể từ khi án xử cho ly hôn có hiệu lực.
Trong thời kỳ hôn nhân, vợ, chồng có các quyền và nghĩa vụ với nhau theo quy định Luật HN & GĐ năm 2014 là vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương, tôn trọng, chung thủy, quan tâm, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình; có nghĩa vụ chung sống với nhau… Ngoài ra, thời kỳ hôn nhân là cơ sở pháp lý quan trọng được các nhà làm luật ghi nhận, sử dụng để xác định thời điểm bắt đầu và khoảng thời gian tồn tại chế độ tài sản của vợ, chồng. Do đó, các thuật ngữ như: tài sản chung của vợ, chồng; tài sản riêng của vợ, chồng được xây dựng và sử dụng trong thời kỳ này. Thời kỳ hôn nhân là "căn cứ quan trọng nhất để khi xác định tài sản đó có phải là tài sản của vợ chồng hay không, là dựa vào sự ra đời và tồn tại quan hệ vợ chồng. Theo Luật HN & GĐ năm 2014, các quan hệ HN & GĐ xác lập trước ngày Luật này có hiệu lực, thì áp dụng pháp luật về HN & GĐ tại thời điểm xác lập để giải quyết (khoản 1 Điều 131 Luật này).
Quy định này nhằm để giải quyết hậu quả còn tồn đọng do tình trạng “Hôn nhân thực tế” trong xã hội trước khi có Luật HN & GĐ năm 2000 và năm 2014. Hôn nhân thực tế được thừa nhận có giá trị như hôn nhân hợp pháp, quan hệ vợ chồng được bảo vệ trước pháp luật". Là căn cứ quan trọng nhưng để xác định thời kỳ hôn nhân là vấn đề không phải đơn giản. Theo pháp luật hiện hành, thì thời kỳ hôn nhân được tính từ ngày nam nữ kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, do đó, thời kỳ hôn nhân chính là ngày đăng ký kết hôn được ghi trong Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn do cơ 8 quan nhà nước có thẩm quyền cấp.
Từ ngày đăng ký kết hôn, thời kỳ hôn nhân được bắt đầu, quan hệ hôn nhân chính thức được thiết lập, đồng thời quan hệ tài sản của vợ chồng cũng chịu sự điều chỉnh của pháp luật HN & GĐ. Theo nguyên tắc xác định quyền sở hữu tài sản thì tài sản mỗi bên vợ, chồng có được trước thời kỳ hôn nhân mà cụ thể là trước ngày đăng ký kết hôn là tài sản riêng của vợ, chồng. Nếu giữa vợ, chồng không có thỏa thuận nào liên quan đến việc nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung của vợ chồng thì tài sản của bên nào thì vẫn thuộc về bên đó. Tuy nhiên, trong thực tế, nhiều trường hợp nam nữ kết hôn chỉ được gia đình hai bên tổ chức và không đăng ký kết hôn, đây là do ý thức người dân còn hạn chế, chỉ quan trọng nghi thức tổ chức cưới theo phong tục, tập quán mà không đăng ký kết hôn theo luật định, đặc biệt là khu vực miền núi, vùng dân tộc thiểu số… Luật HN & GĐ năm 1959 và 1986 đều quy định việc kết hôn phải được công nhận theo cơ quan nhà nước có thẩm quyền và đăng ký theo thủ tục được pháp luật quy định, nhưng tình trạng hôn nhân không đăng ký kết hôn vẫn còn phổ biến thời bấy giờ nên đòi hỏi phải được điều chỉnh bằng pháp luật.
"Để giải quyết dứt điểm tồn đọng do “Hôn nhân thực tế” trong lịch sử để lại, để đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của vợ, chồng trong quan hệ hôn nhân thực tế, tạo cơ sở pháp lý khi giải quyết hôn nhân thực tế và áp dụng pháp luật thống nhất, Nhà nước ta đã ban hành một số văn bản pháp luật: Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/20000 của Quốc hội về thi hành Luật HN & GĐ năm 2000; Nghị định 77/2001/NĐ-CP của Chính phủ về hướng dẫn đăng ký kết hôn theo Nghị quyết số 35/2000/QH10; Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/10/2000 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật HN & GĐ năm 2000; Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 03/01/2001". Do đó, thời kỳ hôn nhân được xác lập theo các thời điểm sau: "Nếu nam, nữ sống chung với nhau như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 đến ngày 01/01/2001: nếu họ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật thì có nghĩa vụ đăng ký kết hôn đến hết ngày 01/01/2003. Nếu họ đăng ký kết hôn trong thời gian này, thì hôn nhân của họ được xác định từ ngày họ sống chung với nhau 9 như vợ chồng. Nếu họ không thực hiện đúng thủ tục đăng ký kết hôn trong thời hạn này, quá ngày 01/01/2003, mà họ không đăng ký kết hôn thì theo quy định của pháp luật, họ không được công nhận là vợ chồng.
Kể từ ngày 01/01/2001, nếu không thuộc hai trường hợp trên thì thời kỳ hôn nhân được tính kể từ ngày nam nữ đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Ngày chấm dứt quan hệ hôn nhân là ngày vợ, chồng chết hoặc Tòa án tuyên bố là đã chết. Trong trường hợp ly hôn, thì quan hệ vợ chồng chấm dứt kêt từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật". Như vậy, ngày mà nam nữ bắt đầu sống chung như vợ chồng theo hướng dẫn tại Thông tư 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 03/01/2001 được coi là thời điểm bắt đầu thời kỳ hôn nhân và là căn cứ để xác định tài sản riêng của vợ, chồng.
Theo hướng dẫn tại điểm c mục 2 Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT- TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 03/01/2001, thì được coi là nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng, nếu họ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật HN&GĐ 2014 và thuộc một trong các trường hợp sau đây: - Có tổ chức lễ cưới khi về chung sống với nhau; - Việc họ về chung sống với nhau được gia đình (một bên hoặc cả hai bên) chấp nhận; - Việc họ về chung sống với nhau được người khác hay tổ chức chứng kiến; - Họ thực sự chung sống với nhau, chăm sóc, giúp đỡ nhau và cùng nhau xây dựng gia đình. Theo đó, các tài sản mà một bên vợ, chồng có trước ngày họ bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng theo quy định của pháp luật được xác định là tài sản riêng của vợ, chồng đó nếu giữa vợ, chồng không có thỏa thuận nào liên quan đến việc nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung của vợ chồng. Căn cứ vào nguồn gốc tài sản Luật HN&GĐ 2914 đã có một số thay đổi về căn cứ xác định tài sản, so sánh với Luật HN &GĐ năm 2000, có những thay đổi cụ thể như sau: Thứ nhất, Luật HN &GĐ năm 2014 đã bỏ căn cứ xác định tài sản riêng của vợ, chồng là “Đồ dùng, tư trang cá nhân”. Theo quy định của Luật HN & GĐ năm 2000 "thì cứ là đồ dùng, tư trang cá nhân là thuộc tài sản riêng của vợ, chồng mà không có quy định nào hạn chế giá trị tài sản, không quy định loại nào là đồ dùng, loại nào là tư trang cá nhân thuộc sở hữu riêng; đồng thời pháp luật cũng không xem xét nguồn gốc hình thành đồ tư trang cá nhân là từ tài sản chung hay tài sản riêng.
Do đó, có thể hiểu là người nào (vợ hoặc chồng) quản lý, sử dụng tài sản đó sẽ được xác định là tài sản riêng của người đó. Đây là quy định mới của luật HN&GĐ năm 2000 khi xác định những đồ dùng tư trang cá nhân là tài riêng của vợ chồng.