Chương 1 đã trình bày trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa của đề tài và kết cấu của đề tài. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Thực phẩm hữu cơ Theo Tổ chức Y tế Thế Giới (WHO), thực phẩm hữu cơ là các sản phẩm được sản xuất dựa trên hệ thống canh tác hoặc chăn nuôi tự nhiên, không sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, kháng sinh tăng trưởng,… Theo Tổ chức Lương thực và nông nghiệp của Liên hợp quốc (FAO), thực phẩm hữu cơ là những thực phẩm được nuôi trồng trong điều kiện tự nhiên, không sử dụng kháng sinh, công nghệ biến đổi gen hay bất kỳ hóa chất tổng hợp nào. Mục đích của thực phẩm hữu cơ là loại bỏ các hóa chất có hại trong thực phẩm và làm tăng giá trị dinh dưỡng cũng như tính hữu cơ của thực phẩm (Gracia & Magistris, 2007). Thực phẩm hữu cơ thường được coi là bổ dưỡng hơn, lành mạnh hơn, an toàn hơn và thân thiện hơn với môi trường (Teng & Wang, 2015).
Perry & Schultz (2005) định nghĩa thực phẩm hữu cơ là thực phẩm được nuôi trồng và sản xuất trong điều kiện không sử dụng phân bón hóa học, thuốc trừ sâu, chất kích thích tăng trưởng, tăng trọng cho vật nuôi và các chất biến đổi gen nhằm đảm bảo tính nguyên vẹn của sản phẩm đầu ra. Khái niệm của Perry & Schultz (2005) được tác giả sử dụng trong luận văn này. Nhóm sản phẩm được xem xét là thực phẩm tươi sống và thực phẩm đã qua sơ chế, chế biến.2 Ý định hành vi Ajzen (2002) cho rằng ý định hành vi là hành động của một người được hướng dẫn bởi ba yếu tố: niềm tin vào hành vi, niềm tin vào chuẩn mực và niềm tin vào khả năng kiểm soát. Những niềm tin này càng mạnh thì ý định hành động càng lớn.3 Ý định mua Theo Elbeck (2008), ý định mua được mô tả là sự sẵn sàng của khách hàng trong việc mua sản phẩm.
Người có ý định mua sẽ có tỷ lệ mua thực tế cao hơn so 7 với những người không có ý định mua (Brown at al. Ý định mua là bước đầu tiên trong việc phát triển nhu cầu mua. Kotler at al. (2001) cho rằng trong giai đoạn đánh giá phương án mua, người mua sẽ cho điểm các thương hiệu khác nhau và hình thành nên ý định mua.
Ý định mua dựa trên các yếu tố như thu nhập mong đợi, giá bán và tính năng sản phẩm mong đợi.4 Ý định mua thực phẩm hữu cơ Ramayah at al. (2010) cho rằng ý định mua thực phẩm hữu cơ là một trong những biểu hiện cụ thể của hành động mua. Theo Han at al. (2009) thì ý định mua thực phẩm hữu cơ thường gắn với những lời truyền miệng tốt về sản phẩm và ý định trả nhiều tiền hơn.
Nik at al. (2009) cho rằng ý định mua thực phẩm hữu cơ là khả năng và ý chí của cá nhân trong việc dành sự ưa thích của mình cho thực phẩm hữu cơ hơn là thực phẩm thông thường khi cân nhắc mua sắm. Tác giả sử dụng khái niệm của Nik at al. (2009) trong luận văn này.
Thực trạng thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương Thành phố Thủ Dầu Một là đô thị loại 1. Theo báo cáo của Uỷ ban Nhân dân tỉnh Bình Dương, đến nay thành phố Thủ Dầu Một đã có thu nhập bình quân đầu người cao gấp gần 2 lần bình quân chung cả nước, GDP bình quân đầu người đạt gần 82 triệu đồng, cao gấp 1,79 lần mức trung bình toàn quốc, toàn thành phố không còn hộ nghèo theo chuẩn chung quốc gia. Thu nhập người dân cao, vấn đề sức khỏe và thực phẩm sử dụng hằng ngày được người dân quan tâm nhiều hơn. Theo báo cáo của Hội nông dân tỉnh Bình Dương, thực phẩm hữu cơ đã trở thành sản phẩm quen thuộc ở thành phố Thủ Dầu Một.
Hiện nay ở thành phố Thủ Dầu Một có các siêu thị lớn như Go Market, MM Mega Market, Co.opMart, Aeon CitiMart., các siêu thị nhỏ như FamilyMart, Bách Hóa Xanh, Winmart+, Co.op Food… Dạo một vòng quanh chợ Thủ Dầu Một, có rất nhiều tiểu thương kinh doanh thực phẩm hữu cơ. Nhiều cửa hàng đang ồ ạt mở ở thành phố Thủ Dầu Một như: HB Farm, DaLat House, Foodtech, Rau 3S, DS Garden,…trải rộng khắp địa bàn để phục vụ người dân. Tuy nhiên, theo Cục Bảo vệ thực vật, nhiều nơi hiện nay 8 chỉ quan tâm đến quy mô, marketing, việc trang trí mà không nhận ra xu hướng tiêu dùng của người dân. Họ không quan tâm đến việc vì sao người dân có thể sẵn sàng bỏ ra mức chi phí cao hơn cho thực phẩm hữu cơ thay vì có thể mua thực phẩm thông thường ở các chợ truyền thống.
Người bán chỉ nghĩ đơn giản rằng tiêu dùng thực phẩm hữu cơ đang là trào lưu, vì vậy nhiều nơi đã phải đóng cửa sau một thời gian hoạt động vì kinh doanh không hiệu quả.3 Lý thuyết về ý định hành vi Tác giả sử dụng lý thuyết hành vi có kế hoạch - TPB (Ajzen, 1991). Đây là lý thuyết mở rộng của lý thuyết hành vi hợp lý - TRA (Fishbein & Ajzen, 1975), được tạo ra do sự hạn chế của lý thuyết TRA. Theo lý thuyết TRA, yếu tố quan trọng nhất quyết định hành vi của con người là ý định thực hiện hành vi đó. Ý định thực hiện hành vi được quyết định bởi hai yếu tố: thái độ và chuẩn chủ quan.
Thái độ đối với một hành vi phụ thuộc vào nhận thức hay niềm tin đối với hành vi hoặc đánh giá của bản thân một người về kết quả của hành vi. Chuẩn chủ quan chịu sự ảnh hưởng của quan niệm và niềm tin của các nhóm tham khảo đối sản phẩm và dịch vụ. Nhóm tham khảo ở đây là những người xung quanh có liên quan và ảnh hưởng trực tiếp đến khách hàng. Thái độ Ý định hành Hành vi vi Chuẩn chủ quan Hình 2.
Mô hình Lý thuyết hành vi hợp lý (Nguồn: Fishbein & Ajzen, 1975) Theo lý thuyết TPB, động cơ hay ý định tiêu dùng là yếu tố thúc đẩy cơ bản của hành vi tiêu dùng. Động cơ hay ý định tiêu dùng bị dẫn dắt bởi ba yếu tố là thái độ, chuẩn chủ quan và nhận thức về kiểm soát hành vi. Thái độ đối với hành vi là mức độ mà mỗi cá nhân đánh giá cao hay thấp một hành vi nào đó. Chuẩn chủ 9 quan là nhận thức về áp lực mà xã hội đặt lên cá nhân trong việc thực hiện hay không thực hiện hành vi.
Nhận thức về kiểm soát hành vi là nhận thức về việc dễ dàng hay khó khăn để thực hiện một hành vi cụ thể. Lý thuyết TPB khác với lý thuyết TRA ở yếu tố này. Vẫn với việc lấy ý định hành động làm trung tâm, việc giải thích hành vi sẽ đạt kết quả cao hơn khi đưa thêm nhân tố nhận thức về kiểm soát hành vi vào. Nhìn chung, thái độ đối với hành vi càng tích cực, chuẩn chủ quan càng ủng hộ việc thực hiện hành vi và nhận thức kiểm soát hành vi càng ít cản trở thì ý định thực hiện hành vi càng mạnh mẽ.
Tuy nhiên, tầm quan trọng của mỗi yếu tố trong ba yếu tố nêu trên không hoàn toàn tương đồng trong những bối cảnh nghiên cứu khác nhau. Thái độ Chuẩn chủ quan Ý định hành vi Hành vi Nhận thức về kiểm soát hành vi Hình 2. Mô hình Lý thuyết hành vi có kế hoạch (Nguồn: Ajzen, 1991) Lý thuyết TPB được sử dụng trong nhiều nghiên cứu về ý định mua thực phẩm hữu cơ. Trên thế giới, có nhiều nghiên cứu đã sử dụng lý thuyết TPB như nghiên cứu của Michaelidou & Hassan (2008), nghiên cứu của Al-Swidi at al.
Ở Việt Nam, nghiên cứu của Nguyễn Thị Thuyết Minh (2016) được thực hiện ở thành phố Hồ Chí Minh, nghiên cứu của Ngô Phạm Ý Uyên (2017) được thực hiện ở thành phố Nha Trang đã sử dụng lý thuyết TPB làm lý thuyết nền.4 Các nghiên cứu trước có liên quan Trong bối cảnh thị trường và văn hóa khác nhau thì ý định mua thực phẩm 10 hữu cơ là khác nhau. Các nghiên cứu về ý định mua thực phẩm hữu cơ đang được các nhà nghiên cứu quan tâm và thực hiện. Khi nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định mua thực phẩm hữu cơ của người dân tại thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, tác giả đã tham khảo một số nghiên cứu trong và ngoài nước. Dưới dây là các nghiên cứu trước có liên quan.1 Nghiên cứu của Kulikovski at al.
(2010) Nghiên cứu về của Kulikovski at al. (2010) về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định mua thực phẩm hữu cơ được thực hiện ở Hi Lạp. Nghiên cứu sử dụng dữ liệu thu thập được từ 190 người dân. Các yếu tố được nghiên cứu là sức khỏe, chất lượng, giá trị, đạo đức, giá cả, niềm tin, an toàn thực phẩm.
Nghiên cứu chỉ ra rằng ý định mua thực phẩm hữu cơ của người dân Hi Lạp bị ảnh hưởng bởi ba yếu tố: chất lượng, an toàn thực phẩm và giá trị. Các yếu tố còn lại: sức khỏe, đạo đức, giá cả và niềm tin không gây ảnh hưởng đến ý định mua thực phẩm hữu cơ của người dân Hi Lạp. Sức khỏe Chất lượng Giá trị Ý định mua thực Đạo đức phẩm hữu cơ Giá cả Niềm tin An toàn thực phẩm Hình 2. Mô hình nghiên cứu của Kulikovski at al.
(2010) (Nguồn: Kulikovski at al., 2010) Nghiên cứu tìm ra những kết luận rất hữu ích tuy nhiên có hạn chế là mẫu 11 được lựa chọn chỉ ở một địa điểm đó là thành phố Thessaloniki của Hi Lạp. Và mẫu này chủ yếu được chọn là những người đã thường xuyên mua thực phẩm hữu cơ. Như vậy ảnh hưởng của những nhân tố này có thể không được rõ nét nữa do bị ảnh hưởng bởi thói quen mua hàng.2 Nghiên cứu của Al-Swidi at al. (2014) Nghiên cứu của Al-Swidi at al.
(2014) về các số yếu tố ảnh hưởng đến ý định mua thực phẩm hữu cơ được thực hiện ở Southern-Punjab, Pakistan. Dữ liệu được thu thập được từ 184 người dân Pakistan. Các yếu tố được nghiên cứu là thái độ, chuẩn chủ quan và kiểm soát hành vi. Thái độ Ý định mua thực Kiểm soát phẩm hữu cơ hành vi Chuẩn chủ quan Hình 2.
Mô hình nghiên cứu của Al-Swidi at al. (2014) (Nguồn: Al-Swidi at al.