Chương 1 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ TÍN DỤNG, CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG VÀ HIỆU QUẢ TÍN DỤNG 1. Tổng quan về hoạt động tín dụng 1. Khái niệm hoạt động tín dụng Tín dụng (credit) là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị (tài sản) từ người sở hữu sang người sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định; khi đến hạn, người sử dụng phải hoàn trả một lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu. Như vậy, phạm trù tín dụng có ba nội dung chính là: tính chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị, tính thời hạn và tính hoàn trả [14, tr.
Tín dụng ngân hàng là việc ngân hàng thỏa thuận để khách hàng sử dụng một tài sản (bằng tiền, tài sản thực hay uy tín) với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu (tái chiết khấu), cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác [14, tr. Hay tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời gian nhất định với một khoản chi phí nhất định. Như vậy, tín dụng ngân hàng cũng chứa đựng ba nội dung: có chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang người sử dụng; sự chuyển nhượng này có thời hạn hay mang tính tạm thời; sự chuyển nhượng có kèm chi phí [9, tr. Theo sách Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng (2010), NXB Thống kê do PGS.
Nguyễn Văn Tiến (Học viện Ngân hàng) chủ biên thì tín dụng ngân hàng có 05 đặc điểm [14, tr. - Thứ nhất, tín dụng ngân hàng dựa trên cơ sở lòng tin. Ngân hàng chỉ cấp tín dụng khi có lòng tin vào việc khách hàng sử dụng vốn vay đúng mục đích, hiệu quả và có khả năng hoàn trả nợ vay (gốc, lãi) đúng hạn; còn người đi vay thì tin tưởng vào khả năng kiếm được tiền trong tương lai để trả nợ gốc và lãi. - Thứ hai, tín dụng là sự chuyển nhượng một tài sản có thời hạn.
Ngân hàng là trung gian tài chính “đi vay để cho vay”, nên mọi khoản tín dụng của ngân hàng đều phải có thời hạn, đảm bảo cho ngân hàng hoàn trả vốn huy động. 10 - Thứ ba, tín dụng phải trên nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi. Nếu không có sự hoàn trả thì không được coi là tín dụng. Giá trị hoàn trả phải lớn hơn giá trị lúc cho vay (giá trị gốc), nghĩa là ngoài việc hoàn trả giá trị gốc, khách hàng phải trả cho ngân hàng một khoản lãi, đây chính là giá của quyền sử dụng vốn vay.
Khoản lãi phải luôn là một số dương, có như vậy mới bù đắp được chi phí hoạt động và tạo ra lợi nhuận, phản ánh bản chất hoạt động kinh doanh của ngân hàng. - Thứ tư, tín dụng là hoạt động tiềm ẩn rủi ro cao cho ngân hàng. Việc thu hồi tín dụng phụ thuộc không những vào bản thân khách hàng, mà còn phụ thuộc vào môi trường hoạt động, ngoài tầm kiểm soát của khách hàng như sự biến động về giá cả, lãi suất, tỷ giá, lạm phát, tăng trưởng kinh tế, thị trường, thiên tai,… Khi khách hàng gặp khó khăn do môi trường kinh doanh thay đổi, dẫn đến khó khăn trong việc trả nợ, điều này khiến cho ngân hàng gặp rủi ro trong tín dụng. - Thứ năm, tín dụng phải trên cơ sở cam kết hoàn trả vô điều kiện.
Quá trình xin vay và cho vay diễn ra trên cơ sở những căn cứ pháp lý chặt chẽ như: Hợp đồng tín dụng, khế ước vay tiền, hợp đồng bảo hiểm tiền vay, bảo lãnh,… trong đó bên đi vay phải cam kết hoàn trả vô điều kiện khoản vay cho ngân hàng khi đến hạn. Cũng theo sách Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng (2010), NXB Thống kê do PGS. Nguyễn Văn Tiến (Học viện Ngân hàng) chủ biên thì tín dụng ngân hàng được phân chia thành nhiều loại tùy thuộc vào các tiêu chí phân loại [14, tr. Cụ thể, tín dụng ngân hàng được phân loại như sau: - Căn cứ vào thời hạn tín dụng có tín dụng ngắn hạn có thời hạn cho vay dưới một năm để bù đắp vốn lưu động tạm thời của doanh nghiệp và phục vụ tiêu dùng cá nhân, hộ gia đình; tín dụng trung hạn và tín dụng dài hạn chủ yếu đáp ứng nhu cầu đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến đổi mới trang thiết bị, mở rộng sản xuất… - Căn cứ vào đảm bảo tín dụng thì tín dụng ngân hàng được phân loại thành tín dụng có đảm bảo (có tài sản cầm cố, thế chấp hoặc có bảo lãnh của người thứ ba) và tín dụng không có đảm bảo (không có tài sản cầm cố, thế chấp hay không có bảo lãnh của người thứ ba).
- Căn cứ vào mục đích sử dụng có tín dụng bất động sản, tín dụng công thương nghiệp, tín dụng nông nghiệp và tín dụng tiêu dùng. 11 - Căn cứ vào chủ thể vay vốn có tín dụng doanh nghiệp (tín dụng bán buôn); tín dụng cá nhân, hộ gia đình (tín dụng bán lẻ) và tín dụng cho các tổ chức tài chính. - Căn cứ vào phương thức hoàn trả nợ vay có tín dụng trả góp, tín dụng hoàn trả một lần và tín dụng hoàn trả theo yêu cầu. - Căn cứ vào hình thái giá trị của tín dụng có tín dụng bằng tiền, tín dụng bằng tài sản và tín dụng bằng uy tín.
- Căn cứ vào xuất xứ tín dụng có tín dụng trực tiếp (ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho khách hàng có nhu cầu vay vốn, đồng thời khách hàng hoàn trả nợ vay trực tiếp cho ngân hàng) và tín dụng gián tiếp (ngân hàng cấp tín dụng thông qua trung gian như tổ chức đoàn thể). Ngoài ra, còn một số loại tín dụng khác chưa được phân loại như tín dụng kinh doanh chứng khoán. Hoạt động tín dụng là hoạt động rất cơ bản và quan trọng của các TCTD trong đó có ngân hàng và QTDND. Hoạt động tín dụng là hoạt động thường xuyên và là hoạt động chủ yếu tạo ra lợi nhuận cho các TCTD trên cơ sở đảm bảo chuyển quyền sử dụng vốn có thời hạn và có kèm chi phí nghĩa là chủ thể đi vay khi đến hạn phải hoàn trả các khoản vốn gốc và lãi cho chủ thể cho vay.
Các hình thức tín dụng của QTDND Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng. Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân [17, Điều 4]. Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã [17, Điều 4].
Theo Luật các Tổ chức tín dụng (2010), Quỹ tín dụng nhân dân là tổ chức tín dụng do các pháp nhân, cá nhân và hộ gia đình tự nguyện thành lập dưới hình thức hợp tác xã để thực hiện một số hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật các Tổ chức tín dụng và Luật hợp tác xã nhằm mục tiêu chủ yếu là tương trợ nhau phát triển sản xuất, kinh doanh và đời sống [17, Điều 4]. 12 Như vậy, Quỹ tín dụng nhân dân giống như một ngân hàng thu nhỏ do chỉ được thực hiện một số nghiệp vụ ngân hàng như huy động, cho vay bằng đồng Việt Nam và một số nghiệp vụ khác do Ngân hàng Nhà nước quy định; ngoài ra, hoạt động của QTDND còn bị hạn chế về địa bàn hoạt động. QTDND được tổ chức và hoạt động trên nguyên tắc: - Tự nguyện: Các đối tượng được quy định tại Điều lệ QTD (như: cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác,…) khi có đơn gia nhập QTD, tán thành Điều lệ QTD và góp vốn theo quy định của Điều lệ đều có thể trở thành viên của QTD. Thành viên của QTD thì cũng có quyền rời khỏi QTD theo quy định tại Điều lệ QTD.
- Dân chủ, bình đẳng và công khai: thành viên của QTD có quyền tham gia quản lý, kiểm tra, giám sát QTD và trong biểu quyết thì các thành viên đều có quyền ngang nhau. - Tự chủ, tự chịu trách nhiệm và công khai: Các QTD đều tự chủ và tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động kinh doanh của mình, tự quyết định về phân phối thu nhập (sau khi đã thực hiện các nghĩa vụ thuế và trang trải các khoản lỗ). Hoạt động tín dụng chủ yếu của QTDND là cho vay bằng đồng Việt Nam đối với các đối tượng sau: - Cho vay đối với khách hàng là thành viên của QTD: có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật; có khả năng tài chính trả nợ trong thời hạn cam kết; có dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ khả thi và có hiệu quả hoặc có dự án đầu tư, phương án phục vụ đời sống khả thi và phù hợp với quy định của pháp luật (đối với những món vay yêu cầu phải có); thực hiện các quy định về bảo đảm tiền vay theo quy định của Chính phủ và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước. + Đối với khách hàng vay là khách hàng gửi tiền tại QTD: cho vay vốn dưới hình thức cầm cố bằng sổ tiền gửi do chính QTD đó phát hành, mức cho vay tối đa cộng tiền lãi khi đến hạn trả nợ không quá số dư còn lại của sổ tiền gửi tại thời điểm quyết định cho vay.
13 + Đối với khách hàng vay là hộ nghèo không phải là thành viên của QTD đang cư trú trên địa bàn hoạt động của QTD: việc cho vay hộ nghèo phải căn cứ vào quy định tại Điều lệ hoạt động và khả năng cân đối nguồn vốn hiện có, năng lực tài chính của QTD; hộ nghèo có sức lao động nhưng thiếu vốn sản xuất kinh doanh, phải có sổ hộ nghèo, có tên trong danh sách hộ nghèo do Ban xóa đói giảm nghèo ở xã, phường, thị trấn (sau đây gọi tắt là cấp xã) đề nghị, được Ủy ban nhân dân cấp xã sở tại xét duyệt, được một tổ chức chính trị - xã hội cơ sở bảo lãnh bằng tín chấp; quy trình, thủ tục, hồ sơ cho vay hộ nghèo thực hiện theo chế độ tín dụng hiện hành áp dụng đối với thành viên.