MỞ ĐẦU Bệnh tăng huyết áp là bệnh lý thường gặp trong cộng đồng và gia tăng theo tuổi. Bệnh dễ gây tử vong và để lại di chứng nặng nề như liệt nửa người, hôn mê với đời sống thực vật, đồng thời có thể thúc đẩy bệnh mạch vành, suy tim, bệnh mạch máu não và bệnh thận mãn tính làm ảnh hưởng nhiều đến chất lượng cuộc sống.1Trong điều trị tăng huyết áp, đơn trị liệu là điều trị chuẩn ban đầu để kiểm soát huyết áp ở hầu hết các bệnh nhân. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy việc phối hợp thuốc là cần thiết để kiểm soát huyết áp.1,2 Theo Hiệp hội tăng huyết áp Châu Âu (ESH) và Hiệp hội tim mạch Châu Âu (ESC) 2013, hầu hết bệnh nhân cần ít nhất hai thuốc để đạt mục tiêu, điều trị có thể bắt đầu bằng đơn trị liệu hay phối hợp hai thuốc ở liều thấp.3 Lợi điểm của việc phối hợp thuốc là giúp tăng hiệu quả hạ huyết áp, giảm tác dụng phụ, có thể cải thiện độ dung nạp của bệnh nhân, giảm biến cố tim mạch, trong đó, phối hợp thuốc chẹn thụ thể angiotensin II và thuốc chẹn kênh calci được lựa chọn hàng đầu trong điều trị bệnh tăng huyết áp kèm suy tim, bệnh mạch vành và sử dụng trong điều trị khi bệnh nhân sử dụng đơn trị với thuốc chẹn thụ thể angiotensin II hay thuốc chẹn kênh calci không đủ hiệu quả. Amlodipin besilat là thuốc chẹn kênh calci thuộc nhóm dehydropyridin, có tác dụng ngăn ngừa các cơn đau thắt ngực; olmesartan là thuốc thuộc nhóm thuốc chẹn thụ thể angiotensin II.
Có nhiều nghiên cứu lâm sàng chứng minh hiệu quả hạ huyết áp mạnh mẽ của phối hợp olmesartan và amlodipin như nghiên cứu của Rohatagi S và cộng sự (2008)4, Derosa G và cộng sự (2014)5. Phối hợp thuốc ngay từ đầu trong điều trị tăng huyết áp rất cần thiết để kiểm soát được huyết áp và làm giảm biến cố tim mạch. Phối hợp thuốc chẹn thụ thể angiotensin II và chẹn kênh calci đã được chứng minh hiệu quả hạ áp cũng như giảm biến cố tim mạch và đã được đưa vào khuyến cáo điều trị. Trong công nghệ điều chế viên phối hợp liều cố định, có nhiều phương pháp thực hiện như là trộn hai dược chất trong cùng một cốm và dập viên một lớp hoặc tạo cốm riêng biệt từng dược chất và trộn hai loại cốm với nhau và dập viên một lớp hoặc tạo cốm riêng biệt từng dược chất và dập viên hai lớp.
Với mỗi phương pháp có nhiều. 2 ưu nhược điểm riêng, đề tài lựa chọn phương pháp làm cốm từng thành phần rồi phối hợp hai loại cốm với nhau và dập viên một lớp dựa vào điều kiện thực tế của quy mô phòng thí nghiệm cũng như những tiềm năng để nâng quy mô công nghiệp. Trong công thức viên nghiên cứu, olmesartan medoxomil là dược chất thuộc thuốc nhóm II theo phân loại sinh dược học, là dược chất có tính tan kém và tính thấm tốt, vì nghiên cứu là dạng viên phóng thích tức thời, cần có sự phóng thích nhanh dược chất để đạt tác dụng trị liệu, nên tính tan kém của olmesartan medoxomil là vấn đề chính cần được cải thiện trong quá trình nghiên cứu. Vì vậy, đề tài “Nghiên cứu điều chế viên nén phối hợp liều cố định chứa olmesartan (20 mg) và amlodipin (5 mg)” được thực hiện với các mục tiêu cụ thể: - Thẩm định quy trình định lượng được dùng trong quá trình nghiên cứu.
- Cải thiện độ hòa tan của olmesartan medoxomil bằng cách điều chế hệ phân tán rắn kết hợp chất hấp phụ (SDa). - Xây dựng công thức và quy trình điều chế viên nén phối hợp liều cố định chứa olmesartan (20 mg) và amlodipin (5 mg). - Đánh giá tương đương hòa tan in vitro so với chế phẩm đối chiếu Azoren®. TỔNG QUAN VỀ OLMESARTAN VÀ AMLODIPIN 1.
Công thức cấu tạo - Olmesartan medoxomil (OM) có tên khoa học: 2,3-dihydroxy-2-butenyl 4-(1- hydroxy-1- methylethyl)-2-propyl-1-[p-(o-1H-tetrazol-5-ylphenyl)benzyl] imidazol- 5 - carboxylat, cyclic 2,3-carbonat. - Công thức phân tử: C29H30N6O6. - Khối lượng phân tử: 558,59 g/mol.6,7,8 - Cấu trúc hóa học của OM (Hình 1.1) cho thấy các thành phần chủ yếu có thể ảnh hưởng đến độ tan: N N HN N N N O HO O O O O Hình 1. Công thức cấu tạo của OM6 + Nhân benzen: Nhân benzen trong cấu trúc OM có thể ảnh hưởng đến độ tan bằng cách tương tác với các yếu tố trong môi trường hòa tan.
Sự phức tạp của cấu trúc benzen có thể làm cho phân tử trở nên khó hòa tan trong môi trường nước. + Các nhóm ether, ester hay ceton: Các nhóm ether, ester hay ceton cũng có thể góp phần vào tính chất hóa học và độ tan của OM trong môi trường nước. Các nhóm này có thể tương tác với nước và ảnh hưởng đến tính chất hòa tan. Tuy nhiên, độ tan của một chất phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như kích thước hạt, tương tác với các chất khác trong môi trường, pH, nhiệt độ, và các yếu tố.
Do đó, việc đánh giá độ tan của OM đòi hỏi sự nghiên cứu và thử nghiệm kỹ thuật cụ thể để hiểu rõ các yếu tố ảnh hưởng và cải thiện tính hòa tan của OM. Tính chất lý hóa - OM có dạng bột hoặc bột tinh thể màu vàng hoặc vàng nhạt. - Phân loại theo hệ thống phân loại sinh dược học (BCS): OM được xếp vào phân loại II (tan kém, thấm tốt).9 OM không tan trong nước (thực tế tan khoảng 0,007 mg/mL) và tan kém trong metanol, không tan trong heptan. OM tan được tối đa 100 mMol trong 1 lít dung môi DMSO (Dimethyl sulfoxyd).
- Nhiệt độ nóng chảy: 185,5 oC.6,7,8 Tính ổn định Murakami và cộng sự đã tiến hành các nghiên cứu về các sản phẩm phân hủy của OM. Kết quả cho thấy các sản phẩm phân hủy tăng lên đến 0,72% sau 06 tháng trong viên nén OM nếu bảo quản ở điều kiện 40 oC và độ ẩm tương đối 75%. Nghiên cứu xác định được cấu trúc sản phẩm phân hủy là một dimer được ester hóa của OM. Định tính Dược điển Mỹ 202110 A.
Kiểm tra quang phổ hồng ngoại. Phổ hấp thu hồng ngoại của OM11 B. Trong phần định lượng, tỷ lệ giữa thời gian lưu pic chính so với thời gian lưu chất chuẩn nội trong dung dịch thử tương ứng với thời gian lưu của dung dịch chuẩn. Định lượng Dược điển Mỹ 202110 đã đề cập việc định lượng OM được thực hiện theo phương pháp sắc ký lỏng: * Chuẩn bị: Dung dịch chuẩn và dung dịch thử ổn định trong 24 giờ ở 5 oC.
Acid phosphoric loãng: acid phosphoric 0,2%. Dung dịch đệm: KH2PO4 0,015 M, điều chỉnh bằng acid phosphoric đến pH 3,4. Pha động: Acetonitril - đệm (17 : 33, tt/tt). Dung môi pha loãng 1: Acetonitril - nước (4 : 1, tt/tt).
Dung môi pha loãng 2: Acetonitril - nước (2 : 3, tt/tt). Dung dịch chuẩn nội: 0,5 mg/mL ester isobutyl acid 4-hydroxybenzoic trong dung dịch pha loãng 2 (dung dịch này ổn định trong 1 tháng ở nhiệt độ phòng). Dung dịch chuẩn gốc: pha 1 mg/mL OM chuẩn Dược điển Mỹ trong môi pha loãng 1. Dung dịch chuẩn: pha 0,05 mg/mL OM chuẩn Dược điển Mỹ từ dung dịch chuẩn gốc và 0,025 mg/mL ester isobutyl acid phydroxybenzoic từ dung dịch chuẩn nội trong dung dịch pha loãng 2.
Dung dịch thử gốc: 1 mg/mL OM trong dung dịch pha loãng 1. Dung dịch thử: 0,05 mg/mL OM từ dung dịch mẫu gốc và 0,025 mg/mL ester isobutyl acid p-hydroxybenzoic từ dung dịch chuẩn nội /chất pha loãng 2. * Điều kiện sắc ký: Phương pháp sắc ký lỏng. Đầu dò: UV 250 nm.
Cột sắc ký: 4,6 mm × 15 cm; cột được nhồi pha tĩnh octadecyl silyl silica 5 μm. Nhiệt độ cột: 40 oC. Tốc độ dòng: 1 mL/phút. Thể tích tiêm mẫu: 10 µL.
* Tương thích hệ thống: Mẫu tiến hành: Dung dịch chuẩn. 6 Yêu cầu: Độ phân giải: giữa OM và ester isobutyl acid p-hydroxybenzoic ≥ 4. Độ lệch chuẩn tương đối: đối với tỷ lệ đỉnh của OM và chất chuẩn nội ≤ 0,5%. * Cách tiến hành: Mẫu tiến hành: Dung dịch chuẩn và dung dịch thử.
Tính toán kết quả: Tính hàm lượng % của OM so với hàm lượng được ghi trên nhãn trong phần viên nén đã dùng: Ru Cs Kết quả = × × 100 Rs Cu Trong đó : Ru: tỷ lệ diện tích pic của OM và ester isobutyl acid p-hydroxybenzoic trong dung dịch thử. Rs: tỷ lệ diện tích pic của OM và ester isobutyl acid p-hydroxybenzoic trong dung dịch chuẩn. Cs: Nồng độ OM trong dung dịch chuẩn (mg/mL). Cu: Nồng độ OM trong dung dịch thử theo lý thuyết (mg/mL).
Tiêu chuẩn chấp nhận: 98,0-102,0%. Tác dụng dược lý OM là một dẫn xuất của imidazol tổng hợp có đặc tính hạ huyết áp. Sau khi thủy phân, OM được chuyển thành olmesartan.12 Olmesartan ngăn chặn tác dụng co mạch của angiotensin II bằng cách ngăn chặn có chọn lọc sự gắn kết của angiotensin II với thụ thể AT1 trong cơ trơn mạch máu và tuyến thượng thận. Do đó, hoạt động của nó độc lập với các con đường tổng hợp angiotensin II.
Điều này ngăn cản sự co mạch do angiotensin II gây ra và giảm sản xuất aldosteron, do đó ngăn chặn việc giữ natri và bài tiết kali do kích thích aldosteron,12 dẫn đến giảm huyết áp, giảm nồng độ aldosteron, giảm hoạt động của tim và tăng bài tiết kali.13 Song song với tác dụng hạ áp, olmesartan cũng giúp giảm tình trạng tái cấu trúc mạch máu và cơ tim (dày thất trái), do đó có thể dùng cho bệnh nhân sau nhồi máu. 7 cơ tim và bệnh nhân suy tim phân suất tống máu giảm. Ngoài ra còn có hiệu quả làm chậm tiến triển suy thận ở những bệnh nhân mắc bệnh thận mạn có hay không có đái tháo đường kèm theo. Đặc tính dược động học * Hấp thu OM là một tiền dược, nhanh chóng được chuyển hóa thành chất có tác dụng là olmesartan thông qua enzym esterase của hệ tiêu hóa.
Sinh khả dụng (SKD) tuyệt đối trung bình của olmesartan khi được hấp thu bằng đường uống (dạng viên nén) khoảng 25,6%. Nồng độ đỉnh trong huyết tương của olmesartan đạt được khoảng 2 giờ sau khi uống olmesartan và nồng độ trong huyết tương tăng lên gần như tuyến tính khi tăng liều đơn đường uống cho đến 80 mg/ngày. Thức ăn ảnh hưởng rất ít tới hiệu quả của olmesartan khi đánh giá về SKD.15 * Phân bố Thể tích phân bố trung bình sau khi tiêm tĩnh mạch olmesartan là khoảng 16 – 29 lít. olmesartan gắn kết mạnh với protein huyết tương (99,7%), nhưng hiệu quả không bị ảnh hưởng nhiều bởi các loại thuốc gắn kết trên huyết tương khác (có báo cáo về tương tác của olmesartan với warfarin khi gắn kết trên huyết tương làm giảm hiệu quả của olmesartan).
Sự kết hợp của olmesartan với các tế bào máu là không đáng kể.