CHƯƠNG 1 ĐẶT VÁN ĐÈ Cây đậu tương có vai trò rất quan trọng trong đời sống của con người, nó là nguồn cung cấp dầu đồng thời cũng là cây cung cấp thực phim cho con người, nguyên liệu cho các ngành chế biến như: tỉnh chế khô dau, tinh dầu, sữa đậu nành, bánh kẹo. Cây đậu tương còn có tác dụng cải tạo đất rất tốt thường được đưa vào trồng xen với các hệ thống cây trồng, vật nuôi góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp. Cây đậu tương được trồng chủ yếu để lấy hạt vì trong hạt đậu tương có rất nhiều chất dinh đưỡng có lợi cho sức khỏe con người như làm giảm các bệnh ve tim mach. Kết quả phân tích thành phần sinh hóa các chất trong hạt đậu tương cho thấy hàm lượng Protein và Lipit rất cao, điển hình hạt đậu tương có chứa 38 - 42% protein, 18 — 24% lipit, ngoài ra là các hidratcacbon, các chất khoáng.
Hà Gi là một trong những tỉnh đi đầu về sản xuất đậu tương trong cả nước đặc biệt là huyện Chương Mỹ, Phú Xuyên. nhưng trong mấy năm tfở lại đây đậu tương của Hà Nội có chiều hướng giảm về mặt sản lượng và đặc biệt do sự biến đổi về thời tiết nên thời vụ trồng đậu tương trước đây không còn phù hợp với huyện Quốc Oai nữa. Trong những năm gan đây nhiều nơi đã đưa cây đậu tương vào hệ thống canh tác với diện tích ngày càng tăng và cơ cấu thời vụ đa dạng, đặc biệt là trên dat gd doi chỉ cấy được lúa mùa. Chính vì vậy cây đậu tương đã được đưa vào trồng ở vụ xuân, tuy nhiên những nghiên cứu về thời vụ để trồng đậu tương cho phù hợp với lúa mùa chưa được nghiên cứu nhiều.
Xuất phát từ thực tế sản xuất đậu tương ở Việt Nam nói chung, Hà Nội nói riêng, chúng tôi tiền hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ gieo trông đến sinh trưởng phát triển của đậu tương trong điều kiện vụ xuân 2009 tại xã Đông Yên, huyện Quốc Oai, Hà Nội” CHUONG 2 TONG QUAN NGHIEN CUU 2. Yêu cầu sinh thái của cây đậu tương 2. Nhiệt độ Đậu tương có nguồn gốc ôn đới, nhưng khả năng chịu rét của chúng rất kém. Tổng tích ôn của đậu tương biến động từ 1888 - 2700°C điều này còn phụ thuộc vào.
giống chín sớm hay muộn. Từng giai đoạn sinh trưởng phát triển của cây đậu tương có yêu cầu nhiệt độ khác nhau: Thời kỳ mọc nhiệt độ thích hợp nhất là 30°C, phạm vi nhiệt độ tối thiêu và tối đa cho thời kỳ mọc là 5°C và 40C. Nhiệt độ thích hợp nhất cho sự sinh trưởng thân lá là 22 — 27C, thấp nhất là 15C, cao nhất là 37°C. Nhiệt độ tháp ảnh hưởng đến ra hoa, kết quả.
Nhiệt độ dưới 10°C ngăn cản sự phân hóa hoa, dưới 18°C đã có khả năng làm cho quả không đậu. Nhiệt độ thích hợp nhất cho thời kỳ ra hoa 1a 22 — 25°C. Nhiệt độ thích hợp nhất cho thời kỳ hình thành quả và hạt là 21 — 23°C, thap nhất là 15C cao nhất là 35°. Thời kỳ chín nhiệt độ thích hợp nhát là 19 - 20°C.
Nhiệt độ 25 ~ 27°C hoạt động của vi khuẩn nốt sẵn là tốt nhat, néu trén 33°C vi khuẩn họat động kém sẽ kéo theo quá trình cố định nitơ bị ảnh hưởng (Đoàn Thị Thanh Nhàn và cộng sự, 1996) 2. Ánh sáng Đậu tương là cây ngày ngắn điển hình có phản ứng với độ dài ngày, các giống khác nhau phản ứng với độ dài ngày khác nhau. Để phân hóa mầm hoa cây đòi hỏi phải có ngày ngắn. Trong điều kiện ngày ngắn thì làm tăng tỉ lệ đậu quả và tốc độ (ích lũy chất khô về hạt, còn ngày dài thì ngược lại.
Cây đậu tương chịu tác động của ánh sáng cả về độ dài chiếu sáng và cường độ chiếu sáng. Nếu trồng đậu tương trong điều kiện ánh sáng yếu thì làm cho thân cây bị vồng và còi cọc. ( Đoàn Thị Thanh Nhàn và cộng sự, 1996) Phản ứng quang chu kỳ biểu hiện ở chỗ: Trong thời gian sinh trưởng sinh dưỡng, nếu đậu tương gặp điều kiện ngày ngắn thì sẽ rút ngắn thời gian từ mọc đến ra hoa, do đó rút ngắn thời kỳ phân hóa mầm hoa, dẫn tới làm giảm tích lũy chất khô và giảm số lượng hoa. Sau khi ra hoa, nếu đậu tương gặp điều kiện ngày ngắn, thời gian sinh trưởng không bị ảnh hưởng, nhưng khối lượng chất khô toàn cây giảm.
Trong thực tế bộ giống của nước ta hiện nay chủ yếu là các giống có phản ứng trung tính với độ dài ngày nên có thể trồng được nhiều vụ trong năm. Độ âm, lượng mưa Nhu cau nước của cây đậu tương thay đổi tùy theo điều kiện khí hậu, kỹ thuật trồng trọt và thời gian sinh truởng. Đậu tương cần lượng mưa từ 350 — 600mm cho cả quá trình sinh trưởng. Hệ số phát tán 600 — 1000g H;0/1g chất khô.
Thường nhu cầu nước của đậu tương tăng dần theo thời kỳ sinh trưởng. Giai đoạn ra hoa và bắt đầu làm quả nếu bị thiếu nước hoa có thể rụng nhiều làm giảm số quả. Người ta tính được rằng nếu như độ ẩm trong đất chỉ còn từ 35 ~ 40% sẽ làm giảm năng suất đến 2/3, nguy hại nhất là khi từ chỗ đang đủ độ ẩm chuyển sang hạn nặng, còn trong trường hợp đất du 4m ma gap phai không khí hanh khô thì cây có thê chịu đựng được. Giai đoạn quả my là lúc đậu tương cần lượng nước lớn nhất, nếu hạn thời kỳ này sẽ làm giảm năng suất nghiêm trọng.
Người ta tính rằng, đề tạo ra 1kg chất khô cần phải có từ 600 — 700m” nước nhất là giai đoạn ra hoa và kết quả, điều đó chứng tỏ cây đậu tương cần nhiều nước. Đất đai Đất trồng đậu tương thích hợp nhát là đất thịt nhẹ, tơi xốp, thoáng khí, thoát nước , PH từ 6 — 7. Đậu tương không sống được trên đất quá chua hoặc quá kiềm. Đất ít màu, chua vẫn có thể trồng được đậu tương nhưng cần phải thoát nước, bón nhiều lân và vôi (Đoàn Thị Thanh Nhàn và cộng sự, 1996) 3 Trên đất cát đậu tương thường cho năng suất không ồn định, trên đất thị! nặng đậu tương khó mọc, nhưng sau khi mọc lại thích ứng tốt hơn so với các loại cây màu khác.
Đất khó tiêu, thoát nước có cấu trúc mịn muốn có năng suất cao chỉ nên cày sâu 15 ~ 20cm, do đất ảm ướt nhiều vi khuẩn gây thối rễ, nếu không làm đắt kéo dài dẫn đến năng suất giảm có thể làm giảm tới 17,5%. Dinh dưỡng Đậu tương yêu cầu lượng dinh dưỡng khá lớn đặc biệt là sản xuất đậu tương theo hướng thâm canh. Do có khả năng cố định đạm nên nhu cầu về. đạm bón cho đậu tương ít hơn so với các cây trồng khác.
Nguồn đạm cộng sinh có thể cung cấp khoảng 60% tổng số nhu cầu Đạm là nguyên tố đinh dưỡng quan trọng nhất đối với cây đậu tương thường được tích lũy trong giai đoạn đầu của thời kỳ sinh truởng sinh dưỡng, cần cao nhất vào giai đoạn ra hoa, kết quả. Bón đạm thúc đầy quá trình tăng trưởng của cây, làm cho cây ra nhiều nhánh, phân cành, ra lá nhiều, lá cây có kích thước to, màu xanh, lá quang hợp mạnh do đó làm tăng năng suất cây. Lân là nguyên tổ quan trọng tới dinh dưỡng của đậu tương, lân còn xúc tiễn sự sinh trưởng của bộ rễ, nốt ân, hoa và quả, lân tham gia vào thành phần các enzim, các protein, tham gia vào quá trình tổng hợp các axitamin. Lân kích thích sự phát triển của rễ cây làm cho rễ ăn sâu vào đất và lan rộng ra xung quanh, tạo thêm điều kiện cho cây chống chịu được han va it dé nga.
Lân thúc đây cây ra hoa kết quả sớm và nhiều. Lân làm tăng đặc tính chống chịu của cây đối với các yêu tố không thuận lợi: chống rét, chống hạn, chịu độ chua của đất, chồng một số loại sâu bệnh hại. Kali có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình trao đổi đạm, trung hòa gluxit cũng như hàng loạt các phản ứng trao đôi khác trong cây, điều hòa cân bằng nước, tổng hợp protein, tăng khả năng chống chịu sâu bệnh, chống đỏ. Thiếu kali thường dẫn đến hiện tượng mép lá bị cháy, lá bị cong lề và ảnh hưởng đến năng suất chất lượng hạt thương phẩm.
Nói chung, bón đạm, lân, kali cho cây sẽ rất tốt nêu bón đủ liều lượng và đúng thời kỳ. Nếu bón phân không đúng thời kỳ và liều lượng sẽ ức chế sự hình thành phát triển và boạt động của vi khuân nốt sẵn. Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới và Việt Nam 2. Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới Cây đậu tương giữ vai trò quan trọng trong các cây lấy dầu của thế giới, tiếp đó là lạc, hướng dương.
từ năm 1970 sản xuất đậu tương trên thế giới tăng ít nhất 2 lần so với bất cứ cây lay dau nao khác. Trong toàn bộ sản lượng. cây lấy dầu của toàn thế giới, sản lượng đậu tương tăng từ 32% năm 1965 tới 50% trong những năm 80.1: Diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương trên thế giới [ Nam 2002 2003 2004 2005 2006 2007 | Diện tích (nghìn ha) 77,35 | 83,61 91,61 | 91,42 | 92,99 | 94,90 | Năng suất (ha) 23,34 | 22,67 | 22,64 | 23,45 | 23,82 | 22,78 | Sản lượng (nghìn tấn) | 180,53 | 189,52 206,46 | 214,35 | 221,50 | 216,14 | (Nguon: FAOSTAT 2008) Do khả năng thích ứng khá rộng, hiện nay cây đậu tương được trồng ở nhiều nước trên khắp các châu lục. Tính đến năm 2001, diện tích đậu tương.
của thế giới là 76,13 triệu ha, tập trung nhiều nhất ở Châu Mỹ(73,03%), tiếp đến là châu Á (23,15%). Các nước có nhiều diện tích trồng đậu tương là: Mỹ, Nhật Ban, Braxin, Trung Quốc, Indonexia, Liên Xô cũ. Cây đậu tương đã trở thành 1 trong 4 cây trồng chính đứng sau lúa mì, lúa nước và ngô (Chu Văn Tiệp, 1981) và có tốc độ tăng trưởng cao cả về diện tích, năng suất và sản lượng. Hiện nay cây đậu tương được trồng ở §6 quốc gia trên thé giới ở các châu lục.
Qua số liệu bảng 2.1 cho ta thấy: Diện tích trồng đậu tương trên thế giới liên tục tăng trong những năm qua Theo tỏ chức nông lương thé giới FAO (2007) diện tích đậu tương toàn thé giới năm 2006 là 92,99 triệu ha, tăng 29,81 triệu ha so với nam 1996 Cùng với việc mở rộng diện tích, năng suất đậu tương cũng có sự tăng trưởng đáng kể, năm 2006 năng suất đậu tương là 23,82ta/ha tăng 2,98ta/ha so với năm 1996.