chương 1 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu trên thế giới 9 Ở đây, tác giả xin được đi từ những nghiên cứu nền tảng đầu tiên và quá trình củng cố, hoàn thiện của các nghiên cứu tiếp theo từ đó tạo tiền đề cho mô hình chính mà tác giả lựa chọn kế thừa Nghiên cứu của Weixu (2005) Weixu với nghiên cứu “Mối quan hệ giữa cơ cấu vốn và hiệu quả kinh doanh” vào năm 2005. Mẫu nghiên cứu bao gồm 1,130 công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Thượng Hải. Các biến được đưa ra : Biến phụ thuộc : tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE).
Biến độc lập: tỷ lệ nợ/vốn chủ sở hữu (D), tốc độ tăng trưởng của tổng tài sản (GROWTH), quy mô công ty (SIZE). tỷ lệ nợ/vốn CSH ROE tốc độ tăng quy mô trưởng của công ty tổng tài sản Hình 1. Nghiên cứu của Weixu (2005) 10 Phương pháp nghiên cứu : Weixu nghiên cứu tác động của biến tỷ lệ nợ và một số biến khác đến biến hiệu quả kinh doanh, trong đó ông xây dựng 3 mô hình: quan hệ tuyến tính, quan hệ phi tuyến bậc 2 và quan hệ phi tuyến bậc 3 Kết quả nghiên cứu cho thấy: - Tỷ lệ nợ có tác động cùng chiều đến hiệu quả kinh doanh khi ở mức tỷ lệ nợ thấp và tác động ngược chiều khi ở mức tỷ lệ nợ cao. - Hiệu quả kinh doanh không có tương quan mạnh với tỷ lệ nợ dài hạn.
- Biến quy mô có tác động cùng chiều đến hiệu quả kinh doanh khá mạnh ở mô hình tuyến tính, còn mô hình phi tuyến thì quy mô không có tác động. - Biến tăng trưởng tổng tài sản không có tác động đến hiệu quả kinh doanh. Như vậy, nghiên cứu đã xác định được mối quan hệ của biến quy mô và tỉ lệ nợ đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp theo chiều dương. Bài nghiên cứu còn tồn tại những khó khăn nhất định khi chọn mẫu, xây dựng các biến và tính toán đo lường như sau: nghiên cứu chỉ xem xét các yếu tố tác động đến hiệu quả kinh doanh được đo lường ở góc độ tài chính tức là các số liệu/chỉ số được tính toán từ sổ sách kế toán của doanh nghiệp chỉ số ROE như vậy chưa đủ khách quan để kết luận chỉ số ROE phản ánh đầy đủ về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Vận dụng vào nghiên cứu của mình, tác giả tiến hành kiểm định xem có khác biệt về mối quan hệ của các biến này và khả năng sinh lời đối với các doanh nghiệp niêm yết trên sàn HOSE trong giai đoạn 2015- 2019 không, đồng thời bổ sung thêm chỉ số EPS để có cái nhìn khách quan về khả năng sinh lợi và đem lại giá trị tham khảo cả cho chủ doanh nghiệp và nhà đầu tư. Dimitris Margaritis & Maria Psillaki (2009) 11 Kế thừa nghiên cứu của Weixu (2005), Dimitris Margaritis & Maria Psillaki thực hiện nghiên cứu “Mối quan hệ giữa cơ cấu vốn, quyền sở hữu và hiệu quả kinh doanh của công ty” vào năm 2007. Mẫu nghiên cứu bao gồm các công ty ở Pháp thuộc các lĩnh vực sản xuất công nghiệp. Xây dựng dựa trên mô hình nghiên cứu của Weixu (2005), Dimitris bổ sung các biến tỷ trọng tài sản cố định (TANG), tỷ trọng tài sản lưu động (INT), cấu trúc vốn sở hữu (OWN).
tỷ lệ nợ/vốn CSH tốc độ cấu trúc tăng vốn sở trưởng hữu của tổng tài sản ROE tỷ trọng quy mô tài sản công ty lưu động tỷ trọng tài sản cố định Hình 1. Nghiên cứu của Dimitris Margaritis & Maria Psillaki (2009) Phương pháp nghiên cứu Dimitris Margaritis & Maria Psillaki thực hiện nghiên cứu 2 chiều, 2 mô hình hồi quy như sau: 12 Mô hình 1 - tỷ lệ nợ và các yếu tố tác động đến hiệu quả kinh doanh; Mô hình 2 - hiệu quả kinh doanh và các yếu tố tác động đến tỷ lệ nợ. Kết quả nghiên cứu cho thấy: - Mô hình 1: Tỷ lệ nợ có tác động cùng chiều đến hiệu quả kinh doanh khi tỷ lệ nợ ở mức nợ trung bình. - Mô hình 2: hiệu quả kinh doanh có tác động cùng chiều đến tỷ lệ nợ khi tỷ lệ nợ ở mức nợ từ thấp đến trung bình.
Như vậy, nghiên cứu càng củng cố thêm mối quan hệ của biến quy mô và tỉ lệ nợ đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp Bài nghiên cứu còn tồn tại những khó khăn nhất định khi chọn mẫu, xây dựng các biến và tính toán đo lường như sau: nghiên cứu chỉ xem xét các yếu tố tác động đến hiệu quả kinh doanh được đo lường ở góc độ tài chính tức là các số liệu/chỉ số được tính toán từ sổ sách kế toán của doanh nghiệp chỉ số ROE như vậy chưa đủ khách quan để kết luận chỉ số ROE phản ánh đầy đủ về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Vận dụng vào nghiên cứu của mình, tác giả tiến hành kiểm định xem có khác biệt về mối quan hệ của các biến này và khả năng sinh lời đối với các doanh nghiệp niêm yết trên sàn HOSE trong giai đoạn 2015- 2019 không, đồng thời bổ sung thêm chỉ số EPS để có cái nhìn khách quan về khả năng sinh lợi và đem lại giá trị tham khảo cả cho chủ doanh nghiệp và nhà đầu tư. Rami Zeitun và Gary Gang Tian (2007) Khắc phục những hạn chế chỉ xem xét các yếu tố tác động đến hiệu quả kinh doanh được đo lường bằng một chỉ số ROE cụ thể, Rami Zeitun và Gary Gang Tian (2007) thực hiện nghiên cứu “Capital structure and corporate performance: evidence from Jordan” về yếu tố tác động đến hiệu quả kinh doanh của 167 công ty trên sàn chứng khoán Amman – Jordan từ năm 1989 – 2003. 13 Trong khi các nghiên cứu đã được thực hiện đều xét các yếu tố tài chính tác động đến hiệu quả kinh doanh xét trên phương diện tài chính (các chỉ số tài chính dựa trên sổ sách, báo cáo tài chính của doanh nghiệp) thì Zeitun & Tian vào năm 2007 đã thực hiện nghiên cứu các yếu tố tác động đến hiệu quả kinh doanh trên cả 2 phương diện là sổ sách và thị trường.
Trên phương diện tài chính sổ sách – nghiên cứu sử dụng biến khả năng sinh lời là tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA). Trên phương diện thị trường – biến khả năng sinh lời được đại diện bởi các chỉ số: tỷ số giữa giá trị thị trường của vốn cổ phần và giá trị sổ sách của nợ trên giá trị sổ sách của tổng tài sản (Tobin’s Q); tỷ số giữa giá trị thị trường của vốn cổ phần trên giá trị sổ sách của vốn cổ phần (MBVR). Nghiên cứu này cũng dựa vào các nghiên cứu trước để xây dựng mô hình hồi quy tuyến tính bội với biến phụ thuộc là tỉ lệ nợ, quy mô doanh nghiệp, tốc độ tăng tổng tài sản, quy mô, rủi ro kinh doanh, ngành, chính sách vĩ mô và tỉ trọng tài sản cố định trên tổng tài sản. 14 tỉ lệ nợ tỉ trọng TSCĐ quy mô trên tổng DN tài sản ROA/Tobi n chính Q/MBVR tốc độ sách vĩ tăng tổng mô tài sản rủi ro ngành kinh doanh Hình 1.
Nghiên cứu của Rami Zeitun và Gary Gang Tian (2007) Kết quả nghiên cứu : - Biến tỷ lệ nợ có tác động mạnh theo hướng ngược chiều với khả năng sinh lời. - Các yếu tố có tác động cùng chiều đến hiệu quả kinh doanh gồm: tốc độ tăng trưởng của tổng tài sản, quy mô công ty, thuế. - Tỷ trọng tài sản cố định có tác động ngược chiều đến hiệu quả kinh doanh. Công ty có tỷ trọng tài sản cố định cao thì hiệu quả kinh doanh thấp do các công ty đầu tư quá nhiều vào tài sản cố định mà không cải tiến được hiệu quả kinh doanh.
- Ngành nghề kinh doanh có tác động mạnh đến yếu tố hiệu quả kinh doanh ở một số lĩnh vực. - Cấu trúc vốn của một công ty được phát hiện có tác động tiêu cực và đáng kể đến các biện pháp hoạt động của công ty trong cả phương pháp kế toán và thị trường. 15 Một phát hiện thú vị là STDTA có tác động tích cực và đáng kể đến thước đo hoạt động thị trường (Tobin's Q), điều này ở một mức độ nào đó có thể hỗ trợ lập luận của Myers (1977) rằng các công ty có tổng tài sản nợ ngắn hạn cao có tốc độ tăng trưởng cao và hiệu suất cao. - Quy mô công ty được phát hiện có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động của công ty, vì các công ty lớn có chi phí phá sản thấp, có thể hiểu là chi phí phá sản tăng khi quy mô công ty giảm và, do đó, chi phí phá sản ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động của công ty.
Thêm một nghiên cứu củng cố thêm mối quan hệ của biến quy mô và tỉ lệ nợ đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp, vận dụng vào nghiên cứu của mình, tác giả tiến hành kiểm định xem có khác biệt về mối quan hệ của các biến này và khả năng sinh lời đối với các doanh nghiệp niêm yết trên sàn HOSE trong giai đoạn 2015- 2019 không. Hạn chế của nghiên cứu ở vấn đề tình hình chính trị bất ổn định của Jordan lúc bấy giờ: - Thứ nhất, nền kinh tế Jordan đã phải chịu một số lượng lớn các cú sốc từ bên ngoài ở khu vực Trung Đông trong suốt thời gian nghiên cứu. Chiến tranh vùng Vịnh lần thứ nhất nổ ra vào năm 1990-1991. Cả sự trở lại của những người lao động nhập cư và những người tị nạn do cuộc chiến này đã làm gia tăng nghèo đói mức độ và mức độ thất nghiệp ở Jordan.
Ngoài ra, xung đột tiếp diễn ở Bờ Tây và Gaza, và Chiến tranh vùng Vịnh lần thứ hai vào năm 2003 đã có tác động tiêu cực đến du lịch và đầu tư ở Jordan. Hơn nữa, Jordan bị ảnh hưởng nặng nề bởi Intifadah của Palestine bắt đầu vào tháng 9 năm 2000. Intifadah của Palestine đã ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả hoạt động của công ty vì hầu hết sản lượng xuất khẩu của các công ty Jordan được chuyển sang các nước láng giềng này. Các yếu tố kinh tế vĩ mô này, có ảnh hưởng quan trọng đến hoạt động của doanh nghiệp và khả năng vỡ nợ.
16 - Thứ hai, hệ thống ngân hàng ở Jordan có cả ngân hàng thương mại thông thường và ngân hàng Hồi giáo. Chính sách tín dụng ở các ngân hàng Hồi giáo khác với các ngân hàng thương mại, có thể ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp và rủi ro vỡ nợ.