CHƯƠNG 1 Qua các các quy định trên, có thể hiểu NNHCĐ là những vật chất theo quy định pháp luật, khi hoạt động có nguy cơ gây ra những thiệt hại bất ngờ về tính mạng, sức khỏe hoặc tài sản cho những người xung quanh dù đã được chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo quản và sử dụng theo quy định. Ngoài các đặc điểm chung của trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng bao gồm: (i) là một loại trách nhiệm dân sự; (ii) là trách nhiệm vật chất, mang tính tài sản; (iii) chủ thể có trách nhiệm BTTH phải gánh chịu một hậu quả pháp lý bất lợi; (iv) chỉ phát sinh khi có thiệt hại xảy ra; (v) được đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp cưỡng chế; (vi) có thể phát sinh giữa các chủ thể có quan hệ hợp đồng hoặc chưa từng có quan hệ hợp đồng; trách nhiệm BTTH do NNHCĐ gây ra có các đặc điểm riêng, đó là một trường hợp BTTH do tài sản gây ra và chủ thể có trách nhiệm phải BTTH cả khi họ không có lỗi; thiệt hại do NNHCĐ gây ra không bao gồm thiệt hại về danh dự, nhân phẩm, uy tín và bí mật đời tư của cá nhân 15 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ PHÁP LÝ XÁC ĐỊNH TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO NGUỒN NGUY HIỂM CAO ĐỘ GÂY RA 2. Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra 2. Có thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra Thiệt hại là những tổn thất được quy đổi giá trị bằng tiền, do việc xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, bí mật đời tư, tài sản của tổ chức, cá nhân.
Tuy nhiên, NNHCĐ không thể gây ra thiệt hại về danh dự, nhân phẩm, uy tín hoặc bí mật đời tư của cá nhân. Bởi thiệt hại do NNHCĐ gây ra là do hoạt động của các thiết bị như máy móc, xe cộ, dây chuyền sản xuất, hệ thống điện…. Do vậy, những thiệt hại gây ra cho người bị thiệt hại là tài sản, sức khỏe, tính mạng. Hơn nữa, do tính chất nguy hiểm “cao độ” nên NNHCĐ có thể gây thiệt hại cho bất kỳ ai, có thể là chính chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng hoặc những người không có liên quan đến NNHCĐ.
Tuy nhiên, trách nhiệm BTTH do NNHCĐ chỉ áp dụng khi NNHCĐ gây thiệt hại cho những “người xung quanh”, là những chủ thể gánh chịu thiệt hại nhưng không có liên quan đến NNHCĐ đó nhằm để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho những chủ thể này. Thiệt hại do NNHCĐ gây ra là thiệt hại về vật chất bao gồm thiệt hại do tài sản bị xâm hại, thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm và thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm quy định tại các Điều 589, Điều 590 và Điều 591 BLDS năm 2015. Điều 589 BLDS năm 2015 quy định về thiệt hại do tài sản bị xâm phạm bao gồm: “1. Tài sản bị mất, bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng; 2.
Lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản bị mất, bị giảm sút; 3. Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại; 4. Thiệt hại khác do luật quy định”. 16 Điều 590 BLDS năm 2015 quy định về thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm bao gồm: “1.
Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm bao gồm: a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại; b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại; c) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại; d) Thiệt hại khác do luật quy định. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp sức khỏe của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm không quá năm mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định”. Điều 591 BLDS năm 2015 quy định về thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm bao gồm: “1.
Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm bao gồm: a) Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm theo quy định tại Điều 590 của Bộ luật này; b) Chi phí hợp lý cho việc mai táng; 17 c) Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng; d) Thiệt hại khác do luật quy định. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp tính mạng của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có những người này thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có tính mạng bị xâm phạm không quá một trăm lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định”. Nếu “hành vi gây thiệt hại trái pháp luật” của con người là nguyên nhân làm phát sinh trách nhiệm BTTH nói chung thì trách nhiệm BTTH do NNHCĐ gây ra chỉ được áp dụng khi thiệt hại do sự tác động của tự thân NNHCĐ gây ra.
Điều 601 BLDS năm 2015 quy định về “bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra”. Có thể thấy tên của Điều luật đã quy định điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường là phải do chính NNHCĐ gây ra. Điều 601 nêu rõ đối với “phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp” thì chỉ được coi là NNHCĐ khi “đang hoạt động”. Như vậy, nếu thiệt hại xảy ra khi NNHCĐ đang ở trạng thái “tĩnh”, trạng thái “không hoạt động” thì không coi đó là thiệt hại do NNHCĐ gây ra.
BTTH do NNHCĐ gây ra là một dạng đặc thù của trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng, trường hợp này không có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại mà chỉ có sự kiện gây thiệt hại của NNHCĐ trong quá trình tồn tại và hoạt động. Chính vì tính chất nguy hiểm “cao độ” và luôn tiềm ẩn nguy cơ gây thiệt hại cho môi trường xung quanh trong quá trình tồn tại và hoạt động nên pháp luật buộc 18 chủ sở hữu, người được giao chiếm hữu, sử dụng NNHCĐ phải bồi thường khi có thiệt hại xảy ra dù họ không có hành vi trái pháp luật. Có mối quan hệ nhân quả giữa hoạt động của nguồn nguy hiểm cao độ và thiệt hại xảy ra Việc xác định mối quan hệ nhân quả giữa hoạt động của NNHCĐ và thiệt hại xảy ra đóng vai trò quan trọng vì đây là căn cứ xác định có hay không trách nhiệm BTTH của chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng NNHCĐ. Với trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng, hành vi trái pháp luật được coi là nguyên nhân và thiệt hại được coi là hậu quả; hành vi trái pháp luật có trước, thiệt hại xảy ra sau và chúng có mối quan hệ nhân quả với nhau.
Tương tự, với trách nhiệm BTTH do NNHCĐ gây ra, thiệt hại phải do sự tự thân vận động của NNHCĐ và đây cũng là nguyên nhân dẫn đến thiệt hại. Cần phân biệt với trường hợp chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng có lỗi trong việc trông giữ, bảo quản, vận hành, sử dụng NNHCĐ mà gây ra thiệt hại thì thiệt hại trong trường hợp này không phải do NNHCĐ gây ra và không áp dụng trách nhiệm BTTH này mà áp dụng trách nhiệm BTTH nói chung. Yếu tố lỗi đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra Theo quy định tại khoản 3 Điều 601 BLDS năm 2015: "Chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi, trừ trường hợp sau đây: - Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại; - Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”. Yếu tố lỗi mặc dù không phải là điều kiện bắt buộc làm phát sinh trách nhiệm BTTH do NNHCĐ gây ra.
Tuy nhiên trên thực tế, khi có thiệt hại do NNHCĐ gây ra thì các cơ quan, người áp dụng pháp luật cần xem xét yếu tố lỗi để 19 xác định những chủ thể phải chịu trách nhiệm bồi thường cũng như những loại trách nhiệm (hình sự hoặc dân sự) mà những chủ thể này phải gánh chịu. Trách nhiệm BTTH do NNHCĐ gây ra dựa trên sự suy đoán trách nhiệm đối với chủ sở hữu hoặc người được giao quản lý sử dụng NNHCĐ thay vì các trường hợp BTTH thông thường dựa trên sự suy đoán lỗi. Do đó, chủ thể có trách nhiệm phải BTTH cả khi mình không có lỗi. Như đã phân tích tại mục 1.2, hoạt động vận hành của NNHCĐ khi gây thiệt hại nhất thiết phải nằm ngoài khả năng kiểm soát, điều hành của người chiếm hữu, sử dụng và là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến thiệt hại.
Nếu con người có lỗi trong việc bảo quản, vận hành, sử dụng NNHCĐ thì sẽ không đặt ra trách nhiệm BTTH do NNHCĐ gây ra mà áp dụng trách nhiệm BTTH thông thường nói chung. Ngoài ra, khoản 3 Điều 601 BLDS năm 2015 cũng quy định 02 trường hợp loại trừ trách nhiệm BTTH của chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng NNHCĐ, bao gồm: Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại; thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Chủ thể trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra 2.