Chương 1: Giới thiệu. Nội dung thực hiện: Làm rõ lý do chọn đề tài, mục tiêu và vấn đề nghiên cứu, phương pháp, phạm vi nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết về cấu trúc tài sản, cấu trúc vốn và hiệu quả hoạt động. 9 Nội dung thực hiện: Hệ thống lại các lý thuyết có liên quan đến cấu trúc tài sản; cấu trúc vốn và hiệu quả hoạt động, làm rõ các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động, từ đó bình chọn biến và xây dựng mô hình nghiên cứu.
Chương 3: Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu. Nội dung thực hiện: Trình bài về phương pháp dữ liệu và phương pháp dùng để nghiên cứu trong bài viết. Chương 3: Kết quả nghiên cứu. Nội dung thực hiện: Trình bày các kết quả nghiên cứu và thảo luận kết quả.
Chương 4: Kết luận và kiến nghị. Nội dung thực hiện: Chương này sẽ tổng kết lại vấn đề nghiên cứu, các hạn chế của luận văn, kết luận và kiến nghị. 10 HƢƠNG 2 Ơ Ở LÝ THUYẾT VỀ CẤU TRÚC TÀI SẢN, CẤU TRÚC VỐN VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG 2. Khái niệm về cấu trúc tài sản và cấu trúc vốn 2.
Cấu trúc tài sản Cấu trúc tài sản (hay cơ cấu tài sản) là tỷ trọng của các loại tài sản mà một công ty hiện đang nắm giữ, thể hiện trong bản tổng kết tài sản. (Trích Nguyễn Văn Ngọc, Từ điển Kinh tế học, Đại học Kinh tế Quốc dân) Trên bảng cân đối kế toán Các công ty thuộc ngành nghề khác nhau với trình độ cơ giới hóa khác nhau có cơ cấu tài sản khác nhau. Chẳng hạn các công ty công nghiệp lớn, hiện đại có tỷ trọng tài sản cố định cao hơn các công ty bán lẻ; ngược lại các công ty bán lẻ có tỷ trọng tài sản lưu động lớn hơn. Việc hiểu rõ cơ cấu tài sản cho phép giám đốc doanh nghiệp đề ra quyết định đúng đắn về các nguồn tài chính hợp lý, đặc biệt trong việc cân đối giữa nợ ngắn hạn và nợ dài hạn.
Cấu trúc vốn Cấu trúc vốn là thuật ngữ tài chính nhằm mô tả nguồn gốc và phương pháp hình thành nên nguồn vốn để doanh nghiệp có thể sử dụng mua sắm tài sản, phương tiện vật chất và hoạt động kinh doanh. Cấu trúc vốn đề cập tới cách thức doanh nghiệp tìm kiếm nguồn tài chính thông qua các phương án kết hợp giữa bán cổ phần, quyền chọn mua cổ phần, phát hành trái phiếu và đi vay. Trong nghiên cứu năm 1958, trường hợp giả định rằng, không có thuế thu nhập doanh nghiệp, quan điểm của lý thuyết Modigliani và Miller (1958) cho rằng cấu trúc vốn không có ảnh hưởng gì đến hiệu quả của công ty hoặc công ty không có cách nào để gia tăng hiệu quả bằng cách thay đổi cấu trúc vốn. Năm 1963, bằng việc đưa thuế thu nhập doanh nghiệp vào mô hình nghiên cứu, lý thuyết Modigliani và Miller (1963) đã kết luận: Trong điều kiện có thuế thu nhập doanh nghiệp, hiệu 11 quả của công ty có vay nợ bằng hiệu quả của công ty không có vay nợ cộng với hiện giá của “lá chắn thuế”.
Tóm lại, nghiên cứu của Modigliani và Miller đã chỉ ra rằng, có mối liên hệ giữa cấu trúc vốn và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Lý thuyết trật tự phân hạng cho rằng các công ty có hai nguồn chính để tài trợ cho nhu cầu tài chính của mình là tài chính nội bộ và tài chính bên ngoài; các công ty thích sử dụng tài chính nội bộ trước tiên như tài sản lưu động dư thừa hoặc thu nhập giữ lại sau đó là tài chính bên ngoài. Nếu tài chính nội bộ không đủ để tài trợ cho các dự án đầu tư, các công ty có thể hoặc không thể có được tài trợ bên ngoài, và nếu có, để giảm thiểu chi phí bổ sung cho thông tin bất cân xứng, các nhà quản lý lựa chọn giữa các nguồn tài chính bên ngoài khác nhau, các công ty thích sử dụng đòn bẩy nợ trước tiên, phát hành thứ hai cổ phiếu ưu đãi và cuối cùng là phát hành cổ phiếu phổ thông. Lý thuyết đánh đổi là một phần mở rộng của lý thuyết Modigliani và Miller (1963) được phát triển bởi Miller.
Lý thuyết đề xuất rằng cấu trúc vốn tối ưu của công ty bao gồm sự đánh đổi giữa các ảnh hưởng của doanh nghiệp và thuế cá nhân, chi phí đại lý và chi phí phá sản, v. Lý thuyết đánh đổi mong muốn các công ty chọn mức nợ để đạt được sự cân bằng giữa lợi ích từ lãi suất lá chắn thuế với các chi phí liên quan đến một cuộc khủng hoảng tài chính trong tương lai hoặc với sự không linh hoạt tài chính hiện tại. Lý thuyết chi phí đại diện do Jensen và Meckling (1976) thực hiện thảo luận về xung đột lợi ích giữa cổ đông và người ra quyết định của các công ty (người quản lý, thành viên hội đồng quản trị, v.), xung đột này xuất phát từ sự khác biệt trong hành vi hoặc quyết định bằng cách chỉ ra rằng các bên thường có các mục tiêu khác nhau và dung sai khác nhau đối với rủi ro. Trong trường hợp này, các nhà quản lý chịu trách nhiệm điều hành công ty hướng tới đạt được mục tiêu cá nhân thay vì tối đa hóa lợi ích cho các cổ đông.
Do đó, mâu thuẫn chính mà các cổ đông phải đối mặt là đảm bảo rằng các nhà quản lý không đầu tư dòng tiền miễn phí vào 12 các dự án không sinh lãi. Mặt khác, việc tăng tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu sẽ hỗ trợ các công ty đảm bảo rằng các nhà quản lý đang điều hành công ty hiệu quả hơn. Khái niệm về hiệu quả hoạt động 2. Khái niệm và cách đo lường Hiệu quả hoạt động được hiểu theo nghĩa chung nhất là các lợi ích kinh tế, chính trị, xã hội mà một cá nhân hay tổ chức đạt được trong quá trình hoạt động của mình.
Đối với tất cả các doanh nghiệp, các đơn vị sản xuất kinh doanh hoạt động trong nền kinh tế, với các cơ chế quản lý khác nhau thì có các nhiệm vụ mục tiêu hoạt động khác nhau. Để hiểu được khái niệm hiệu quả hoạt động cần xem xét đến hiệu quả kinh tế. “Hiệu quả kinh tế là phương diện của quá trình sản xuất cho biết kết hợp các đầu vào nhân tố cho phép tối thiểu hóa chi phí để sản xuất ra một mức sản lượng nhất định”, Trích: Nguyễn Văn Ngọc (2006). Từ điển Kinh tế học.
Đại học Kinh tế Quốc dân. Như vậy, từ định nghĩa về hiệu quả kinh tế như trên ta có thể hiểu: Hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu đã đặt ra, nó biểu hiện mối tương quan giữa kết quả thu được và những chi phí bỏ ra để có kết quả đó, độ chênh lệch giữa hai đại lượng này càng lớn thì hiệu quả càng cao. Trong thực tế, có rất nhiều cách để đo lường hiệu quả hoạt động. Việc lựa chọn các chỉ tiêu chính yếu để đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp phụ thuộc vào việc yếu tố nào là then chốt đối với sự thành công của doanh nghiệp.
Vì vậy, các chỉ tiêu đo lường hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp thường được chia làm nhiều nhóm khác nhau: (1) Nhóm các chỉ tiêu đo lường hiệu quả sản xuất – kinh doanh: bao gồm các chỉ tiêu như doanh thu, số lượng khách hàng mới, tình hình công nợ với khách hàng và nhà cung cấp, mức sinh lời của từng phân khúc khách hàng…; 13 (2) Nhóm các chỉ tiêu đo lường hiệu quả tài chính: là các chỉ tiêu tài chính được tính toán từ báo cáo tài chính, thể hiện khả năng sinh lời và vị thế tài chính của doanh nghiệp, bao gồm các chỉ tiêu như lợi nhuận ròng, các tỷ số thanh khoản, các tỷ số sinh lời, tổng tài sản,…; (3) Nhóm các chỉ tiêu đo lường hiệu quả xã hội và môi trường: bao gồm các chỉ tiêu như đầu tư vào hoạt động cộng đồng, cách thức xử lý rác thải và tái chế. Trong các chỉ tiêu nói trên thì chỉ tiêu tài chính có thể coi là chỉ tiêu phổ biến nhất và thường được sử dụng trong các nghiên cứu đánh giá hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp. Phần lớn các nghiên cứu về tác động cấu trúc tài sản, cấu trúc vốn tới hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp tiêu biểu như nghiên cứu của Mawih và Ani (2014), Nassar (2016), Ganiyu và cộng sự (2019) đều sử dụng các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời như chỉ tiêu tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (cứ một đồng đầu tư vào tổng tài sản thì tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận) và chỉ tiêu tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (cứ một đồng vốn chủ sở hữu bỏ tra thì thu về bao nhiêu đồng lợi nhuận) để đánh giá hiệu quả hoạt động. Trong khi đó, nghiên cứu của Lê T.N (2013) sử dụng thêm chỉ số Tobin’s Q, bởi vì chỉ số này phản ánh giá trị thị trường của cổ phiếu và thể hiện đánh giá của thị trường đối với hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Tùy vào quan điểm cụ thể và mục đích cụ thể từng thời kỳ mà nhà đầu tư sẽ lựa chọn phương pháp đo lường phù hợp. Tuy nhiên, đứng trên giác độ là nhà đầu tư, họ thường quan tâm tới chỉ tiêu tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu. Bởi lẽ, suy cho cùng, nhà đầu tư luôn mong muốn biết được rằng trong một đồng vốn họ bỏ ra, họ sẽ thu được về cho mình bao nhiêu đồng lời. Do đó, đối với đề tài này, tác giả sử dụng chỉ tiêu tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu của công ty để đo lường hiệu quả hoạt động của công ty.
Tuy nhiên, khi nhắc đến tài sản, ta không thể nào bỏ qua chi phí khấu hao. Bởi vì, các doanh nghiệp luôn thực hiện trích khấu hao đối với tài sản của mình. Nó là một chi phí không bằng tiền và nó được khấu trừ vào doanh thu để tính lợi nhuận. Tương tự, đối với các khoản vay trong việc phân chia cấu trúc vốn, 14 chi phí lãi vay được hình thành và chi phí này cũng được trừ vào doanh thu để tính lợi nhuận.