CHƯƠNG 1 THẨM QUYỀN YÊU CẦU XÁC ĐỊNH QUYỀN SỞ HỮU TÀI SẢN, QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TRONG KHỐI TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ, CHỒNG ĐỂ THI HÀNH ÁN 1. Thẩm quyền của Chấp hành viên trong việc yêu cầu Tòa án xác định tài sản chung của vợ, chồng để thi hành án 1. Thủ tục Chấp hành viên yêu cầu Tòa án xác định tài sản chung của vợ, chồng để thi hành án Theo Điều 9 Luật THADS 2014 quy định “Nhà nước khuyến khích đương sự tự nguyện THA. Người phải THA có điều kiện mà không tự nguyện thi hành thì bị cưỡng chế THA theo quy định của luật này”.
Trong khâu tổ chức thi hành các phán quyết của Tòa án thì pháp luật đã giao cho CHV Cơ quan THADS được quyền cưỡng chế để THA trong trường hợp người phải THA có điều kiện (có tài sản) thi hành nhưng không tự nguyện thi hành. Cưỡng chế là một khái niệm không hề xa lạ, từ khi Nhà nước xuất hiện, cưỡng chế được xem là một công cụ không thể thiếu để đảm bảo cho sự tồn tại của bất kỳ Nhà nước nào. Cưỡng chế là biện pháp nghiêm khắc, quyết liệt, thể hiện rõ nhất tính quyền lực của Nhà nước để buộc các chủ thể phải thực hiện nghĩa vụ của mình theo pháp luật. Cưỡng chế THADS là việc chủ thể có thẩm quyền dùng quyền lực nhà nước thực hiện biện pháp tổ chức cưỡng chế theo quy định của Luật THADS đối với tổ chức, cá nhân nhằm bảo đảm thi hành trên thực tế quyền, nghĩa vụ đã được xác định trong các phán quyết của Toà án bằng thủ tục thi hành án dân sự.
Điều 71 Luật THADS 2014 đưa ra 06 biện pháp cưỡng chế THA nhưng trên thực tế biện pháp “Kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ” được CHV áp dụng nhiều nhất. Kê biên được hiểu là kê 9 ra, lập danh mục những tài sản chờ xử lý theo pháp luật 1. Vì vậy, CHV chỉ được áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với tài sản của người phải THA để đảm bảo nghĩa vụ THA của họ mà không được kê biên tài sản của người không có nghĩa vụ THA. Pháp luật THADS quy định, việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế, kê biên tài sản của người phải THA mà tài sản thuộc sở hữu chung một cách chính xác, có căn cứ, CHV phải thông báo cho các bên liên quan biết trước khi xử lý tài sản của người phải THA để các bên đương sự khởi kiện, yêu cầu Toà án giải quyết nhằm phân định lại rõ đâu là phần tài sản của người phải THA trong tài sản chung và hạn chế quyền lợi của những người liên quan bị xâm phạm.
Thông thường tài sản riêng của người phải THA được đem ra thi hành trước sẽ thuận lợi hơn và chỉ xử lý tài sản của người phải THA có chung với người khác khi tài sản riêng không đủ, không có hoặc do chính người phải THA yêu cầu xử lý tài sản chung. Khoản 1 Điều 46 Luật THADS 2014 quy định: “hết thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 452 của Luật này, người phải THA có điều kiện THA mà không tự nguyện thi hành thì bị cưỡng chế”, nhưng muốn cưỡng chế thành công thì phải làm rõ thông tin xác định người này có tài sản chung với người khác nhưng chưa xác định được phần quyền sở hữu của họ trong khối tài sản chung. Khoản 1 Điều 74 Luật THADS 2014 quy định một loạt các hoạt động của CHV từ xác định, phân chia cho đến xử lý tài sản chung để THA. Suy ra, thẩm quyền của CHV trong việc yêu cầu Tòa án xác định tài sản chung được giới hạn trong cụm từ “xác định” tại Điều 74 Luật THADS 2014.
Để bắt đầu quá trình xác định phần quyền sở hữu tài sản của người phải THA, hoạt động này được thực hiện trước hết bằng thông báo của CHV thông tin đến cho 1 Viện Ngôn ngữ học – Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam (2003), Từ điển tiếng việt, NXB Đà nẵng, trang 485. 2 Khoản 1 Điều 45 Luật Thi hành án dân sự năm 2014 quy định: “1. Thời hạn tự nguyện thi hành án là 10 ngày, kể từ ngày người phải thi hành án nhận được quyết định thi hành án hoặc được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án.” 10 người phải THA và các chủ sở hữu chung biết để họ tự thoả thuận phân chia. Đây được xem là nguyên tắc bất di bất dịch nhằm làm cho các chủ sở hữu chung tích cực hơn trong việc phân chia và bảo vệ quyền tài sản của mình cũng như buộc người phải THA thi hành nghĩa vụ của mình, nếu không sẽ bị cưỡng chế, kê biên tài sản để thi hành nghĩa vụ trước pháp luật, kể cả tài sản chung.
Đầu tiên, CHV phải thông báo cho người phải THA và đồng sở hữu tài sản biết để họ “tự thỏa thuận phân chia tài sản chung hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự”. Hết thời hạn luật định là 30 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo mà các bên “không có thỏa thuận hoặc thỏa thuận vi phạm quy định tại Điều 6 của Luật này hoặc thỏa thuận không được và không yêu cầu Tòa án giải quyết” thì CHV thông báo cho người được THA để yêu cầu Tòa án giải quyết. Sau 15 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo mà người được THA không yêu cầu Tòa án giải quyết thì “CHV yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải THA trong khối tài sản chung theo thủ tục tố tụng dân sự”. Như vậy, CHV yêu cầu Tòa án giải quyết mà không phân biệt tài sản chung với ai, không loại trừ tài sản chung để THA là của vợ, chồng.
Sau khi có kết quả giải quyết của Toà án thì “CHV xử lý tài sản theo quyết định của Tòa án.” Đây là quy trình khá cụ thể để CHV yêu cầu Toà án xác định phần sở hữu tài sản của người phải THA trong khối tài sản chung theo thủ tục tố tụng dân sự so với Luật THADS năm 2008. Để CHV thực hiện được quyền yêu cầu Toà án xác định phần sở hữu của vợ, chồng để THA đòi hỏi phải đáp ứng các điều kiện về chủ thể và thời gian mà khoản 1 Điều 74 Luật THADS 2014 quy định. Tuy nhiên, hiện vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau về thẩm quyền của CHV khi yêu cầu Toà án xác định phần sở hữu tài sản của vợ, chồng để THA. Có quan điểm phản đối vì cho rằng việc xác định phần tài sản là thẩm quyền, trách nhiệm của Toà án, việc yêu cầu xác định phần tài sản là của người có quyền, lợi ích (ở đây là đương sự và một bên vợ/chồng có tài sản chung) chứ không phải CHV.
Trong bài viết “Hoàn thiện pháp luật THADS về cưỡng chế kê biên tài sản chung, Trần Phương Thảo (Trích dẫn trong Nguyễn Minh, “Thi hành án 11 tài sản chung như thế nào”, Báo điện tử nhân dân, truy cập ngày 03/5/2019) chỉ ra rằng còn nhiều quan điểm không đồng tình với quy định CHV phải yêu cầu Toà án xác định phần quyền sở hữu tài sản chung trong khi các chủ sở hữu, sử dụng tài sản đó và người được THA không trực tiếp thực hiện. Do đó, cần loại bỏ quy định này để các đương sự và một bên vợ/chồng có tài sản chung không trông chờ vào CHV, từ đó đẩy nhanh việc THA. Có quan điểm đồng ý vẫn giữ lại thẩm quyền CHV yêu cầu Toà án xác định phần quyền sở hữu tài sản chung của vợ, chồng để THA. Bên cạnh đó, tác giả nhận thấy những quy định tại khoản 1 Điều 74 Luật THADS 2014 đôi khi khó thực hiện; tạo tâm lý ỷ lại cho đương sự; việc thực hiện mất nhiều thời gian làm giảm đáng kể vai trò của CHV trong việc yêu cầu Toà án giải quyết, bởi các lẽ sau: Thứ nhất, cho dù CHV có thực hiện đúng quy định tại khoản 1 Điều 74 Luật THADS 2014, thông báo cho một bên vợ/chồng biết về việc xác định phần tài sản để đảm bảo THA nhưng với tâm lý ngại kiện tụng, không muốn mất thời gian, tiền bạc, công sức cho việc kiện tụng nên một bên vợ/chồng thường không thực hiện việc khởi kiện để xác định phần quyền sở hữu tài sản của mình.
Đặc biệt, trong trường hợp có mối quan hệ thân thiết như vợ, chồng, họ có tâm lý bảo vệ quyền, lợi ích của người còn lại (người phải THADS) nên họ càng không yêu cầu Toà án xử lý tài sản chung đó. Thứ hai, cũng trong khoản 1 Điều 74 Luật THADS 2014 có quy định các chủ sở hữu chung thoả thuận để xác định phần quyền sở hữu của người phải THA trong tài sản chung nhưng với tâm lý không muốn THA của người phải THA thì quy định này ít khả thi vì nếu họ không muốn thoả thuận thì việc thoả thuận không thể diễn ra được. Thứ ba, với quy định hết thời hạn 30 ngày kể từ ngày được thông báo mà người phải THA hoặc một bên vợ/ chồng không có thoả thuận hoặc không khởi kiện đến Toà án thì người được THA có quyền khởi kiện cũng khó mang lại hiệu quả như mong muốn bởi người được THA cũng có tâm lý ỷ lại, trông đợi vì cho rằng nếu 12 mình không khởi kiện thì đã có CHV yêu cầu Toà án xác định phần tài sản chung của vợ, chồng để THA. Chẳng hạn, theo Quyết định số: 02/2018/QĐST-DS ngày 12/01/2018 của TAND huyện B, tỉnh Hà Giang; Quyết định thi hành án theo yêu cầu số 42/QĐ- CCTHADS ngày 19/6/2018 của Chi cục THADS huyện B- tỉnh Hà Giang, bà Nguyễn Khánh V phải thi hành khoản: trả nợ cho bà Nguyễn Thị Ch số tiền 1.000đ (Một tỷ một trăm triệu đồng) và lãi suất theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 của BLDS năm 2015 kể từ ngày 15/6/2018.
Quá trình giải quyết vụ việc, bà V đã thi hành án được số tiền 86.000 đồng cho bà Nguyễn Thị Ch; bà V còn phải thi hành số tiền 1.000 đ (Một tỷ không trăm mười ba triệu hai trăm chín mươi nghìn đồng) và lãi suất theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 của BLDS năm 2015 kể từ ngày 15/6/2018.