MỞ ĐẦU Đột quỵ là tình trạng tổn thương não biểu hiện bằng các khiếm khuyết thần kinh xảy ra đột ngột, tồn tại kéo dài ít nhất 24 giờ hoặc tử vong trong 24 giờ, với căn nguyên là tổn thương mạch máu xảy ra tự phát (không do chấn thương).1 Đây là nguyên nhân tử vong thứ hai trên thế giới, thứ nhất tại Việt Nam và là nguyên nhân gây tàn phế hàng đầu ở người lớn.2,3 Mặc dù đã có nhiều chiến lược hiệu quả trong phòng ngừa và điều trị đột quỵ nhưng tắc mạch máu lớn vòng tuần hoàn trước ở não vẫn có tiên lượng rất xấu với 60 – 80% bệnh nhân tử vong trong vòng 90 ngày sau khởi phát và ít hơn 40% bệnh nhân có thể hồi phục chức năng độc lập.4,5 Các thử nghiệm lâm sàng đối chứng ngẫu nhiên (RCTs) trước đây đã chứng minh can thiệp nội mạch lấy huyết khối (EVT) là phương pháp điều trị tiêu chuẩn trong các trường hợp đột quỵ này với các điều kiện nhất định.6,7 Đặc biệt là sau thành công của hai nghiên cứu DEFUSE 3 và DAWN, Hội tim mạch Hoa Kỳ và Hội đột quỵ Hoa Kỳ (AHA/ASA) đã cập nhật hướng dẫn điều trị cho phép mở rộng cửa sổ điều trị EVT ở những bệnh nhân tắc mạch máu lớn vòng tuần hoàn trước phù hợp các tiêu chuẩn lựa chọn trên hình ảnh học.8-10 Để lựa chọn được những bệnh nhân có lợi và không bị biến chứng sau khi điều trị EVT cần xác định bệnh nhân có mismatch mục tiêu (TMM) trên hình ảnh học theo tiêu chuẩn của nghiên cứu DEFUSE 3.9 TMM được xác định là có khi thoả cả ba tiêu chí gồm: thể tích lõi nhồi máu <70 ml, thể tích vùng mismatch ≥15 ml và tỉ số mismatch ≥1,8 hay nói cách khác là bệnh nhân cần có thể tích lõi nhồi máu nhỏ và vùng tranh tối tranh sáng lớn. Các kĩ thuật hình ảnh hiện đại như chụp cắt lớp vi tính hay cộng hưởng từ tưới máu não giữ vai trò quan trọng trong vấn đề này. Tuy nhiên, thời gian ghi hình và phân tích hình ảnh lâu ảnh hưởng đến cửa sổ điều trị lại là nhược điểm của chúng. Sự ra đời của phần mềm RAPID đã giúp khắc phục được khuyết điểm đó.
Ngoài ra, một vấn đề khá lớn trong thực tế hiện nay là chỉ có khoảng 53% trung tâm đột quỵ trên thế giới thực hiện được hình ảnh học tưới máu do thiếu trang thiết bị cũng như nguồn nhân lực. Hầu hết thực hành lâm sàng tại các bệnh viện, hình ảnh. 2 học được chỉ định cho những bệnh nhân nghi ngờ đột quỵ là chụp cắt lớp vi tính không tiêm thuốc tương phản và có tiêm thuốc tương phản thì động mạch. Bệnh nhân có tắc mạch máu lớn phát hiện trên chụp mạch máu thường được chuyển qua điều trị EVT dù không có hình ảnh tưới máu để đánh giá.
Điều đó đã tạo ra một rào cản khá lớn trong việc áp dụng hướng dẫn điều trị đột quỵ mới của AHA/ASA.11 Vậy liệu có một công cụ nào có thể thay thế tương đối các thông số trên hình ảnh tưới máu và có mối liên quan với TMM để giúp các bác sĩ lâm sàng đưa ra quyết định điều trị. Thực tế đã có nhiều thang điểm ra đời để đánh giá ban đầu độ nặng, giúp theo dõi diễn tiến và tiên đoán kết cục của đột quỵ, trong đó thang điểm đột quỵ của Viện Sức khoẻ Hoa Kỳ (NIHSS) đánh giá 11 chức năng thần kinh đã trở thành công cụ được áp dụng rộng rãi nhất. Tại Việt Nam hiện chưa có nhiều nghiên cứu khảo sát mối liên quan giữa độ nặng khám trên lâm sàng trong đột quỵ và TMM trên hình ảnh học. Do đó, chúng tôi thực hiện nghiên cứu “Khảo sát mối liên quan giữa điểm NIHSS nhập viện và mismatch mục tiêu trên cộng hưởng từ tưới máu trong đột quỵ thiếu máu não cấp” với hai mục tiêu: 1.
Khảo sát tương quan giữa điểm NIHSS nhập viện và thể tích vùng thiếu máu, thể tích lõi nhồi máu trên cộng hưởng từ tưới máu ở bệnh nhân đột quỵ thiếu máu não cấp. Khảo sát mối liên quan và xác định giá trị điểm cắt của điểm NIHSS nhập viện trong dự đoán có mismatch mục tiêu trên cộng hưởng từ tưới máu. Đột quỵ thiếu máu não và các vấn đề liên quan Đột quỵ là tình trạng tổn thương não biểu hiện bằng các khiếm khuyết thần kinh xảy ra đột ngột, các triệu chứng khu trú hơn là lan toả và tồn tại kéo dài ít nhất 24 giờ hoặc tử vong trong 24 giờ, với căn nguyên là tổn thương mạch máu xảy ra tự phát (không do chấn thương).1 Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 2019 đây là nguyên nhân tử vong đứng hàng thứ hai sau bệnh lý tim mạch ở hầu hết các nước.2 Riêng tại Việt Nam, theo thống kê của Bộ Y tế năm 2010 và theo đánh giá của WHO năm 2015 cho thấy đột quỵ là nguyên nhân tử vong chính.12 Ngoài ra, đột quỵ còn được ghi nhận là nguyên nhân gây tàn tật hàng đầu ở người lớn.2,12 Trong những thập niên gần đây, tần suất đột quỵ gia tăng đáng kể khiến nó trở thành gánh nặng của xã hội với khoảng 795.000 trường hợp đột quỵ mỗi năm ở Hoa Kỳ, bao gồm 610.000 đột quỵ mới và 185.000 đột quỵ tái phát.000 trường hợp đột quỵ mỗi năm và theo dự báo sẽ tăng lên khoảng 1,2 triệu vào năm 2025.12 Khoảng 40 giây sẽ có một trường hợp đột quỵ mới xảy ra và khoảng 4 phút sẽ có một trường hợp tử vong vì đột quỵ.13,14 Do đó có thể nói đây là nguyên nhân phổ biến dẫn đến bệnh tật và tàn tật vĩnh viễn. Đột quỵ xảy ra khi nguồn cấp máu nuôi cho một vùng nhu mô não bị gián đoạn đột ngột.
Dựa vào nguyên nhân gây gián đoạn đột ngột có thể phân loại đột quỵ ra làm hai nhóm chính: - Đột quỵ thiếu máu não (hay nhồi máu não). - Đột quỵ xuất huyết não. Trong đó, đột quỵ thiếu máu não chiếm khoảng 87%, còn lại đột quỵ xuất huyết não chiếm khoảng 13% gồm xuất huyết trong nhu mô 10% và xuất huyết dưới nhện 3% (Hình 1. 4 Xơ vữa mạch máu 5% 13% Tắc mạch máu nhỏ 25% Thuyên tắc từ tim 25% 20% Không xác định 25% Khác Xuất huyết Nhồi máu não 87% Hình 1.1: Phân loại đột quỵ và nguyên nhân “Nguồn: Benjamin EJ, 2019”13 1.
Giải phẫu động mạch não Nhu mô não được cấp máu bởi hai vòng tuần hoàn chính thông nối với nhau ở đa giác Willis. Đa giác này có dạng heptagon nằm tại nền sọ, ở thể hoàn chỉnh và đầy đủ nó liên kết hệ thống mạch máu giữa hai bán cầu bằng động mạch thông trước nối hai động mạch não trước với nhau và giữa vòng tuần hoàn trước – sau bằng động mạch thông sau nối đoạn cuối của động mạch cảnh trong với động mạch não sau. Vòng tuần hoàn trước là hệ động mạch cảnh, vòng tuần hoàn sau là hệ động mạch đốt sống – thân nền (Hình 1.2: Vòng đa giác Willis “Nguồn: Netter F.H, 2007”16 - Vòng tuần hoàn trước gồm hai động mạch cảnh trong và các nhánh chính là động mạch não trước, động mạch não giữa và động mạch mạch mạc trước. Do đề tài liên quan chủ yếu đến các mạch máu lớn của tuần hoàn trước, đặc biệt là động mạch cảnh trong và động mạch não giữa nên hai động mạch này sẽ được trình bày cụ thể: o Động mạch cảnh trong xuất phát từ động mạch cảnh chung (bắt nguồn từ quai động chủ).
Có nhiều hệ thống phân đoạn động mạch cảnh trong, trong đó hệ thống của Bouthillier được sử dụng phổ biến nhất. Theo hệ thống này thì động mạch cảnh trong được chia thành các đoạn theo thứ từ ngoài sọ vào trong sọ lần lượt là: C1 đoạn cổ là đoạn ngoài sọ duy nhất, C2 đoạn trong xương đá, C3 đoạn lỗ rách, C4 đoạn xoang hang, C5 đoạn mấu giường, C6 đoạn động mạch mắt, C7 đoạn thông sau. 6 o Động mạch não giữa là một trong ba nhánh tận của động mạch cảnh trong cùng với động mạch não trước và động mạch mạch mạc trước, tách ra từ phía ngoài đa giác Willis, đi chéo khoang gian cuống não vào rãnh bên (rãnh Sylvius) sau đó bò trên bề mặt thuỳ đảo và tận cùng ở đó.15 Động mạch não giữa được chia thành 4 đoạn, trong đó đoạn M1 là đoạn đầu tiêu và cũng được quan tâm nhiều nhất vì là mục tiêu của điều trị EVT. Động mạch não giữa cấp máu cho mặt ngoài bán cầu đại não, phần dưới của thuỳ trán, phần trước của thuỳ thái dương và thuỳ đảo.
Ngoài ra, riêng đoạn M1 còn cho các nhánh xuyên (hay nhánh đậu vân) cấp máu cho các nhân nền (Hình 1.3: Các đoạn động mạch não giữa và vùng tưới máu Mặt phẳng trán cho thấy các động mạch đậu vân bên , động mạch não giữa đoạn M2 ở thuỳ đảo , đoạn M3 trong rãnh sylvian và đoạn M4 ở vỏ não (A); Động mạch não giữa cấp máu phần lớn mặt bên bán cầu não , phần trước thuỳ thái dương và phần dưới bên thuỳ trán (B) “Nguồn: Anne G.Osborn, 2019”18 - Vòng tuần hoàn sau gồm hai động mạch đốt sống, sau khi vào sọ chúng nhập lại thành động mạch thân nền. Các nhánh chính của hệ thống tuần hoàn sau là động mạch tiểu não sau dưới, động mạch tiểu não trước dưới và động mạch. 7 não sau cấp máu chủ yếu cho thân não, tiểu não và phần còn lại của hai bán cầu đại não, nhân nền. Lưu lượng máu não Não chỉ chiếm 2% trọng lượng cơ thể, nhưng khi cơ thể ở trạng thái nghỉ não nhận đến 15 – 20% cung lượng tim và tiêu thụ khoảng 20% tổng lượng oxy hít vào.19,20 Lưu lượng máu não bình thường ở người lớn trung bình là 50 – 60 ml/100g/phút (chất xám: 50 ± 15 ml/100g/phút, chất trắng: 22 ± 5 ml/100g/phút).
Mức tiêu thụ oxy trung bình là 3,5 ml/100g não/phút, tiêu thụ glucose trung bình là 6 mg/100g não/phút.20,21 Nhu cầu oxy và glucose của não cần được đáp ứng liên tục và ổn định do tế bào não không dự trữ oxy, còn lượng glucose dự trữ chỉ đủ sử dụng trong vòng 2 phút. Trong vòng 5 phút thiếu oxy, sự giảm ATP ở mức tế bào làm bơm Na+/K+ vốn duy trì sự chênh lệch giữa nồng độ natri ngoại bào cao và natri nội bào thấp bình thường bị suy yếu. Natri di chuyển thụ động vào tế bào và lượng natri tạo ra một độ thẩm thấu kéo theo nước vào trong tế bào gây phù độc tế bào, hẹp khoang ngoại bào.